mở đầu cho nền văn minh Đại Việt, vì vậy kinh tế - xã hội nói chung, thủ công nghiệp nói riêng, có bước phát triển đáng kể so với trước đó. Kỹ thuật thủ công nghiệp góp phần đảm bảo mọi nhu cầu thiết yếu 4 của đời sống xã hội: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, sinh hoạt.Thời kỳ này, sản phẩm của nghề dệt cũng tạo nên nét văn hóa đặc sắc của ĐạiViệt. Nghề dệt vốn đã nổi tiếng với những sản phẩm: tơ tằm, lông sợi, tơ chuối, đay gai. Làng Nghi Tàm nổi tiếng với nghề dâu tằm, có công chúa Quỳnh Hoa (con vua Lý Thần Tông) làm tổ sư nghề dệt.
Công chúa xin vua cha ra tu ở chùa Đống Long (tức chùa Kim Liên) và tại đây, Công chúa đã dạy cho dân làng biết nghề tằm tang canh cửi. Thời kỳ này, nghề gốm đã sản xuất được khá nhiều loại hình sản phẩm phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến thiết đất nước, tư liệu sinh hoạt, trang trí xa xỉ, xây dựng chùa chiền. Thời ấy, các làng gốm đã nổi tiếng như: Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội). Có thể nói, gốm Lý - Trần là đỉnh cao của nghệ thuật gốm trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Nghệ thuật đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc khắc hoạ nghệ thuật của các công trình Phật giáo. Dưới thời Lý Trần, các nghề thủ công mỹ nghệ đã tiến một bước khá dài. Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Đại Việt được phong kiến nước ngoài coi là báu vật. Khắp nông thôn miền xuôi, đâu cũng có thợ rèn, thợ đúc.
Ở miền núi, nghề khai mỏ rất phát đạt, hiện tượng mua bán nhân công cũng đã xuất hiện. Một sử gia Trung Quốc viết: “Giao Chỉ có cái lợi mỏ vàng, mới mua dân về làm nô.” Các nghề mộc, nề, khắc chạm, sơn thếp cũng phát triển đáp ứng cho nhu cầu xây dựng nhiều chùa chiền của nhà nước và nhân dân. Ngoài ra, nước ta lúc đó còn có nghề in giấy, in bản gỗ đã ra đời. Sau khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, nhiều làng nghề làm giấy đã xuất hiện ở kinh thành như làng Yên Thái, Yên Hoà (làng giấy), làng Hồ, làng Nghè (Nghĩa Đô).
Sản phẩm đó phục vụ cho học hành, thi cử và để viết kinh Phật. Từ đó, hình thành những trung tâm buôn bán lớn trong nước và ngoài nước, như Thăng Long, Vân Đồn. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của sản xuất và trao đổi, mạng lưới giao thông thuỷ, bộ, hệ thống trạm dịch trong thời Lý – Trần cũng được mở 5 mang thêm. Từ Thăng Long toả đi các nơi có cả các hệ thống đường thuỷ, bộ; nhất là trên các đường sông và ven biển đã có nhiều thuyền lớn đi lại tấp nập.
Trong giai đoạn này, "có thể nói, bộ mặt kinh tế của nước Đại Việt đã phát triển với một sinh lực dồi dào và đạt đến trình độ khá cao”[26, 134]. Vấn đề ruộng đất là vấn đề quan trọng bậc nhất không chỉ trong thời kì này mà ở các thời kỳ sau này của xã hội phong kiến Việt Nam. Đối với quốc gia phong kiến như Đại Việt thời Lý Trần có nền kinh tế là nông nghiệp lúa nước thì cơ sở tạo nên chế độ kinh tế đó chính là chế độ sở hữu ruộng đất. Đặc điểm của quan hệ sản xuất của chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và của thời kỳ Lý – Trần nói riêng là chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước.
Những hình thức chia ruộng gồm có các loại ruộng công làng xã, điền trang thái ấp, ruộng tư và ruộng của nhà chùa; nhưng hình thái tư hữu về ruộng đất cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong chế độ sở hữu lúc bấy giờ. Chế độ sở hữu ruộng đất thuộc về nhà nước có liên quan trực tiếp tới chế độ canh tác dựa trên cơ sở thuỷ lợi. Dân tộc Việt Nam từ trước đều gắn với nền nông nghiệp lúa nước. Nhận biết được sự cần thiết của vấn đề thuỷ lợi, nhà Lý vào năm 1108 đã huy động nhân dân đắp đê Cơ Xá và đặc biệt là công trình đắp đê Đỉnh Nhĩ hay còn gọi là đê Quai vạc dưới thời Trần.
Chính hình thức sở hữu ruộng đất của nhà nước đã quy định địa vị và quan hệ qua lại của các tầng lớp xã hội trong sản xuất , quy định hình thức phân phối sản phẩm của xã hội trong xã hội phong kiến. Hay nói cách khác, chế độ này khiến cho sự phân hoá giai cấp hình thành nhưng sự hình thành của giai cấp địa chủ chưa thực sự mạnh mẽ như dưới thời Trần. Đầu thời Trần , chế độ tư hữu về ruộng đất càng ngày càng gia tăng. Thời kỳ này, nhà nước cho phép bán ruộng đất công thành ruộng đất tư.
Thích hợp với quan hệ kinh tế đó là một xã hội có kết cấu giai cấp còn tương ứng. Giai cấp phong kiến thống trị là tầng lớp quý tộc và quan liêu, đại biểu là vua nắm quyền hành trong triều đình và xã hội. Tiếp đó là tầng lớp địa chủ lúc đầu còn ít nhưng về sau tăng dần lên. 6 Tăng lữ cũng là tầng lớp xã hội đáng kể và là lực lượng đông đảo từ cuối Bắc thuộc đến đầu thời Trần.
Nhà nước đã dùng tầng lớp này và tầng lớp Nho sĩ mới xuất hiện để duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền lực triều đình. Xuất hiện tầng lớp trí thức, chủ yếu bao gồm nhà sư và nhà Nho. Nhà sư trưởng thành từ hai dòng thiền Tinida lưu chi và Vô ngôn thông. Nhà Nho trưởng thành từ giáo dục – khoa cử Nho học và trong đó có nhiều người tham gia bộ máy hành chính của nhà nước phong kiến quân chủ.
Các nhà sư còn học cả các kinh sách của Nho giáo, của Đạo gia. Đông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị bao gồm nông dân các làng xã lĩnh canh công điền, công thổ hoặc ruộng của địa chủ , nông nô, nô tỳ, thợ thủ công, lái buôn,. Một điều đáng chú ý ở thời kỳ này là sự trưởng thành của tầng lớp địa chủ và tầng lớp nho sĩ. Sự trưởng thành này diễn ra trên cơ sở chế độ đại điền trang dần dần nhường bước cho chế độ tư hữu ruộng đất.
Nó làm cho cơ cấu bộ máy nhà nước phong kiến từ thời Lý tới Trần có nhiều thay đổi lớn. Nho sĩ dần dần thay thế những chức vụ quan trọng của nhà nước mà trước đó do tầng lớp quý tộc nắm giữ. Đến cuối thời Trần, tầng lớp nho sĩ quan liêu cũng đã trở thành chỗ dựa cho nhà vua trong việc trị nước. Xã hội Đại Việt từ thế kỷ X trở đi, nhất là thời Lý - Trần, kinh tế thương nghiệp phát triển lên một bước đáng kể,có những thành tựu rực rỡ.
Tiền tệ xuất hiện và sử dụng rộng rãi. Giao thông vận tải luôn được cải tạo và mở rộng, góp phần tích cực cho ngoại thương phát triển. Từ trước, thuyền buôn các nước phương Nam và phương Tây như Diệp Điều (Gia va), Thiện (Miến Điện), Thiên Túc (Ấn Độ), An Tức (I răng), Đại Tấn (Đông La Mã) đều đã qua lại buôn bán trên vùng biển nước ta. Đến thời Lý - Trần, thuyền buôn các nước không những chỉ có qua lại ghé đậu mà còn thực sự buôn bán trực tiếp với nước ta [29, 185].
Buôn bán giữa Đại Việt và các nước khác lúc đó không chỉ là sự giao lưu kinh tế, mà kéo theo đó là giao 7 lưu văn hóa, tôn giáo. Chắc chắn Đại Việt lúc đó phải có sự giao lưu Phật giáo trong nước và khu vực, đặc biệt với các nước láng giềng: Trung Quốc, Chiêm Thành và xa hơn nữa là: Tây Vực, Miến Điện, Gia va, Ấn Độ. Năm 1187, “Có nhà sư Tây Vực đến. Vua xuống chiếu hỏi vua ấy có tài năng gì, trả lời có tài sai bảo được hổ.
Bảo thử tài, không hiệu nghiệm "[5, 878]. Năm 1311, “Lấy con gái của sư người Hồ là Chu Di Bà Lam vào cung. Nhà sư này đời Nhân Tôn đã sang nước ta. Dưới thời Trần, Tá Thánh thái sư Chiêu Văn Vương Nhật Duật là người rất giỏi, thường giao lưu với nước ngoài, am hiểu phong tục các nước, lại nói được tiếng các nước: Lại đến chơi chùa Tường Phù, nói chuyện với sư người Tống, ngủ lại rồi về.
Phàm là người nước ngoài đến kinh sư, thường kéo đến chơi nhà, nếu là người Tống thì ngồi nghế đối nhau, đàm luận suốt ngày, là người Chiêm hay người Man khác đều theo quốc tục của họ mà tiếp đãi [5, 558]. Đặc biệt, quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Tống đã tạo điều kiện để du nhập kinh Phật từ Trung Quốc, làm cho Phật pháp phát triển. Các nhà sư Đại Việt lúc đó cũng chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng thiền Tông Trung Quốc. Chẳng hạn như phái thiền Vô Ngôn Thông thời Lý, phái Thảo Đường, phái Trúc Lâm Yên Tử là những phái chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa.
Cùng với nền chính trị độc lập nêu cao ý chí tự lực tự cường, nền kinh tế có bước phát triển đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, Đại Việt có một nền văn hoá phát triển tương thích. Văn hoá Đại Việt thời Lý - Trần để lại một dấu ấn khá đậm trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc. Như Lê Quý Đôn đã nhận định “Nước Nam ở hai triều Lý - Trần nổi tiếng là văn minh.” Nền giáo dục Nho học có tính chất thế tục do nhà nước phong kiến quản lý đã xuất hiện, khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa. Điều này có tác động trực tiếp vào sự hình thành của đội ngũ trí thức dân tộc và sự tuyển lựa nhân lực cho bộ máy quan liêu; ảnh hưởng cả đến thế giới quan và những quy phạm 8 chính trị, đạo đức con người và hơn thế là phong cách tư duy trong sáng tác văn học , nghệ thuật.
Thời kỳ này giáo dục được chú ý phát triển, thi cử được tiến hành để tuyển người tài bổ sung vào hàng ngũ quan lại giúp việc cho triều đình. Trên lĩnh vực văn học, nhiều áng thơ văn đặc sắc đã xuất hiện. Bên cạnh những bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề của đạo Phật là những áng văn chính luận nổi tiếng phản ánh công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong đó, tiêu biểu là bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn.
Đến thời Trần, hoạt động thơ văn diễn ra rất sôi nổi, đặc biệt thời kỳ này chữ Nôm đã được vận dụng rộng rãi.