CHƯƠNG 1 SỰ LÃNH ĐẠO CUA DANG BO TINH BAC NINH XÂY DỰNG CƠ SỞ CHÍNH TRI, TIEN LÊN XÂY DUNG CAN CU DU KÍCH TIÊN-QUÉ-VÕ GIAI DOAN 1945 - 1950 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chỗ đứng chân trên địa bàn Tiên - Quế - Võ và chủ trương của Đảng bộ 1. Những yếu tố chỉ phối đến việc xây dựng chỗ đứng chân kháng chiến trên địa bàn Tiên - Qué - Võ Diéu kién tu nhién Tinh Bắc Ninh là tinh thuộc vùng đồng bang Bắc bộ, nam gon trong vùng đồng băng sông Hồng, nằm trong khoảng 20”58*B đến 20”16°B va 105”54'Ð đến 106”19°Đ, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Tây nam giáp Thanh phố Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và phía Đông giáp tỉnh Hải Dương với tông diện tích toàn tinh là 822/7 km” Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ, điều kiện khí hậu giữa các huyện trong tỉnh ít có sự khác biệt, đặc biệt là tỉnh có hệ thong sông ngòi kha dày đặc, trong đó có hai con sông lớn là sông Cầu, sông Đuống, ngoài ra có sông Ngũ Huyện Khê, Tiêu Tương, Tào Khê có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa của nhân dân, Mặt khác, những con sông này có vị trí quan trọng về mặt quân sự cho quân dân tỉnh Bắc Ninh. Bên cạnh đó thì tuyến đường huyết mạch quốc 16 1 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lang Sơn, cùng các tuyến quốc lộ 2,3 chạy qua vùng Tiên - Qué - Võ cũng tạo điều kiện cho việc liên lạc với các vùng lân cận, va với vi thế huyết mạch như vậy thì đây cũng là khu vực thường xuyên xảy ra tranh chấp giữa ta với thực dân Pháp.
Cư dân vùng Tiên - Quế - Võ có gần 43.000 người sinh sống trên những vùng đất cao và thường ở xung quanh các sườn đôi, gò đất, lối ra vào chính là hai công tiên và hậu, ngoài ra được rào, chăn bởi các lũy tre, các loại cây có gaI, và khoảng cách giữa các xã, làng từ 500 đến 1. Với điều kiện tự nhiên phong phú, xóm làng đông đúc tạo điều kiện thuận lợi cho Tiên - Quế - Võ có những tiện lợi nhất định để lập làng chiến đấu và xây dựng căn cứ du kích, kháng chiến lâu dài. Với địa hình tring nhằm giam chân địch chúng chỉ có một con đường duy nhất vào căn cứ, tuy nhiên ta cũng gặp không ít khó khăn trong việc bảo quản và cất giữ lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược. Do những điều kiện quan trọng về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nói trên đã cho thấy căn cứ du kích Tiên - Quế - Võ là địa bàn có lợi cho Pháp phát huy ưu thế của mình, đồng thời cũng là khu vực quan trọng mà Pháp buộc phải dốc nhiều lực lượng để khống chế và chiếm lấy.
Do vậy nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành, phát triển và hiệu quả hoạt động của khu du kích Tiên - Qué - Võ. Trước khi bị thực dân Pháp chiếm đóng các đơn vị hành chính của huyện Võ Giang không thay đổi, thời kỳ này ở huyện Võ Giang gồm có 15 xã là: Vũ Ninh, Dai Phúc, Võ Cường, Nam Sơn, Vân Dương, Kim Chân, Khắc Niệm, Đại Xuân, Việt Thống, Nhân Hòa, Bằng An, Hán Quảng, Cộng Lạc, Quốc Tuấn, Tân Dân. Và đến năm 1950, các xã Vũ Ninh, Võ Cường, Đại Phúc, Kim Chân cắt về thị xã Bắc Ninh, số xã còn lại là 11. Các đơn vị hành chính này được giữ nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và cho tới khi hòa bình được lặp lại.
Huyện Tiên Du sau Cách mạng tháng Tam năm 1945 có 1 thị tran là Lim và 13 xã là: Cảnh Hung, Hiên Vân, Dai Đồng, Hoàn Sơn, Minh Đạo, Tri Phương, Lạc Vệ, Tân Chi, Việt Đoàn, Nội Duệ, Liên Bão, Phú Lâm, Phật Tích. Huyện Qué Dương có 12 xã: Bồng Lai, Cách Bi, Châu Phong, Chi Lăng, Đào Viên, Đức Long, Mộ Đạo, Ngọc Xá, Phù Lãng, Phù Lương, Phượng Mao, Việt Hùng. Theo quyết định của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa ngày 6-8-1961 hai huyện Quế Dương va Võ Giang sát nhập và lay tên là huyện Qué Võ thuộc tỉnh Bắc Ninh. 10 Dân cư và truyền thong yêu nước của nhân dân vùng Tiên- Quế- Võ Ngay từ thời kỳ đầu của lịch sử nhân dân Bắc Ninh nói chung và nhân dân Tiên - Qué - Võ nói riêng đã có tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường.
Cư dân Việt cô xuất hiện trên vùng đất Tiên - Qué - Võ từ khá sớm (khoảng thời đại đồng thau- sắt sớm), sinh sống đọc theo đôi bờ các dòng sông Tiêu Tương, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cau, sông Đuống, dân ở đây đều là người Kinh, sống tập trung thành những làng lớn nằm kể nhau. Do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp nên cư dân sống chủ yếu băng việc trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi. Trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Ninh thì vùng Tiên - Qué - Võ, có một nền kinh tế khá phát triển, con người nơi đây khéo tay, tài hoa, giỏi nghề dệt, buôn bán, nghề rèn ở Việt Vân (Quế Võ), làm gốm Phù Lãng, nghề mộc Đại Đồng, nghề mây tre đan xuất khẩu ở Lạc Vệ, Xuân Hội, nghề trồng dâu nuôi tằm, xây dựng ở Nội Duệ, trồng cây cảnh Phú Lâm, nghề kham trai, nghề dệt làng Tam Tảo, nghề rèn ở làng Nga Hoàng. Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề truyền thống đã thu hút đông đảo người dân lao động trong tỉnh và các vùng lân cận tham gia.
Chính vì vậy, nó tạo ra tình tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau của những người lao động. Nó mở ra mối quan hệ tiếp xúc, giao thương giữa các tầng lớp nhân dân ở các làng xã, địa phương trong và ngoài tỉnh. Đồng thời nó còn có tác dụng truyền bá những tư tưởng mới, những tư tưởng cách mạng từ nơi này đến nơi khác, từ vùng này đến vùng khác rất nhanh chóng. Hoạt động buôn bán trên dia bàn Tiên - Quế -Võ cũng diễn ra sôi nối, tap nap.
Người dân nơi đây chủ yếu bán những mặt hàng thủ công do chính đôi bàn tay mình làm ra, đem các sản phẩm của mình đến buôn bán ở các chợ trên địa bàn huyện, đồng thời thường xuyên đi lại giữa các vùng chợ nông thôn và thành phố trên địa bàn tỉnh, sang thời Pháp thuộc, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp đã làm thay đổi nền kinh tế - xã hội của Tiên- Qué- Võ. Sự phát triển về kinh tế dẫn đến sự biến đổi và phân hóa xã hội một cách mạnh mẽ. Tầng lớp địa chủ xuất hiện nhiều, có tiềm lực kinh tế và địa vị chính trị ở nông thôn. Tầng lớp nông dân đông đảo về số lượng nhưng ngày càng lún sâu I1 vào con đường ban cùng hóa.
Nông dân Tiên - Qué - Võ mắt đất phải làm tá điền, lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, chịu tô cao, thuế nặng, cuộc sống VÔ cùng cực khổ. Một bộ phận khác phải bỏ ruộng đồng, thậm chí bỏ làng ra đi, làm thuê cho các nhà máy, đồn điền, nhưng cũng bị bọn chủ tư bản đối xử tàn tệ và nhận những đồng lương rẻ mạt. Giai cấp công nhân ở đây dần hình thành qua nhiều thời kỳ trên nhiều lĩnh vực khác nhau: xây dựng đường bộ, làm đường sắt, làm thuê trong các nhà máy gạch, khuy, giấy, sửa chữa xe lửa, và những công nhân đồn điền. Những công nhân này xuất thân từ nông dân nên họ có quan hệ tự nhiên với người nông dân, vì ở gần nhà máy, đồn điền nên người công nhân thường ở nhà của mình, vì thế mà mối quan hệ của họ và những người nông dân càng trở lên gần gũi.
Đó cũng chính là một trong những lý do khiến những tư tưởng tiễn bộ nếu được du nhập sẽ nhanh chóng được phô biến rộng rãi trong phong trào quan chúng, trong đó có chủ nghĩa Mác- Lênin. Do làng nghề và thương nghiệp phát triển khá sớm nên giai cấp tiêu tư sản phát triển nhanh chóng ở nhiều vùng Tiên - Qué - Võ. Họ là những thị dân, cả những người buôn chuyến, bán có quay, có cửa hàng lớn để những người mua thúng bán mẹt, những người thợ thủ công hoặc những người thợ tri thức khá đông đảo được đào tạo ở Bắc Ninh và Hà Nội. Họ rất nhạy bén với thời cuộc, mang trong mình dòng máu yêu nước, lại ở một địa phương có điều kiện giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài, rất gần với Hà Nội nên tiểu tư sản là những người tiên phong trong việc năm bắt, nhận thức và truyền bá tư tưởng mới mẻ, cách mạng vào nhân dân.
Tóm lại, sự biến đổi về kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội ở Tiên - Qué - Võ có giá trị trong việc hình thành và phát triển các trào lưu tư tưởng và các phong trào chính trị lúc đó trên phạm vi Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung. Nói một cách cụ thé, do điều kiện kinh tế khá phát triển, trình độ dân tri tương đối cao, tầng lớp tri thức đông đảo, nhạy bén, đội ngũ công nhân có tỉnh thân đâu tranh cách mạng, nhân dân có truyén thông yêu nước, nên đây là mảnh 12 đất màu mỡ cho chủ nghĩa Mác - Lênin nhanh chóng nảy nở, phát triển trong quan chúng nhân dân. Trước đây trong lịch sử thời Bắc thuộc, Tiên - Quế - Võ thuộc bộ Vũ Ninh của quốc gia Văn Lang. Truyền thuyết Thánh Gióng ở làng Phù Đồng, dãy tre ngà ở Phù Chan, dãy ao hồ trên đất Tiên Du là minh chứng cho tinh than chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta trong những buổi đầu của lịch sử.
Năm 40, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Trang Liêm Sơn (Tiên Du), Liễu Giáp - một phụ nữ có tài cung kiếm đã tập hợp lực lượng, dựng đồn trại bên sông Tiêu Tương tiến công địch ở trị sở Long Biên, góp phần vào chiến thắng trên sông Như Nguyệt có căn cứ ở Thị Cầu (Võ Giang), Dap Cau va Van Xuan. Thời Tran, đối mặt với quân Mông - Nguyên hung bao, nàng Chân Nương và chồng là Trần Thế Bảo cùng nhân dân trong vùng đã lập chiến công ở Hoan Châu và giữ gìn kho tàng ở Thăng Long. Cuối thế kỷ XIX, nhân dân Tiên - Qué - Võ đã nô nức tham gia khởi nghĩa của Nguyễn Cao và khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp xâm lược.