CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Văn hóa, văn hóa truyền thống, văn hóa truyền thống yêu nước 1. Khái niệm văn hóa Có rất nhiều hiểu định nghĩa về văn hóa truyền thống. Mỗi nhà khoa học đều cố gắng đưa ra những định nghĩa đúng nhất về văn hóa dựa theo những góc độ quan sát khác nhau của họ.
Ví dụ như theo chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Văn hóa bao gồm tất cả mọi phương thức sinh hoạt và biểu hiện của nó mà loài người đã phát sinh, sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất để phục vụ nhu cầu đời sống và yêu cầu sinh tồn của mình như: chữ viết, ngôn ngữ, khoa học, ăn mặc, nhà cửa, nơi ở, công cụ lao động,…” [12, tr. Yếu tố cơ bản của văn hóa bao gồm: các phương thức hoạt động và giao tiếp của con người cũng như cơ chế tự tổng hợp, phổ quát để hình thành và phát triển xã hội của con người. Xác lập các yếu tố cấu thành văn hóa, gồm: - Thứ nhất là các yếu tố tinh thần: Nó bao gồm tất cả những gì liên quan đến đời sống tinh thần, tình cảm của người dân như: nghệ thuật, lễ nghĩa, tập tục, lễ hội văn học, …Đó được gọi là hoạt động tinh thần. - Thứ hai là các yếu tố vật chất: Bao gồm những điều liên quan đến đời sống vật chất đảm bảo sự sinh tồn không thể thiếu của con người như: cơm ăn, áo mặc, nơi ngủ, ngôn ngữ giao tiếp.
Trong đó ngôn ngữ giao tiếp được coi như chìa khóa vàng, công cụ tư duy để giúp con người phát triền. Theo UNESCO (1982): “Văn hóa hôm nay là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương cũng như lối sống phong tục tập quán của con người; các quyền cơ bản về phong tục, tín ngưỡng của người dân. Nhờ có văn hóa con người biết suy xét bản thân, tự ý thức trau dồi và đam mê sáng tạo những công trình mới có ích phục vụ cho đời sống hàng ngày.
Có hai yếu tố quyết định đến văn hóa đó là: Điều kiện về tự nhiên như đất, nước, khí hậu, mưa gió,… đây là điều kiện 10 mà con người đôi lúc không tự làm chủ được và cũng bị ảnh hưởng sâu sắc. Những nơi miền núi hay vùng biển hải đảo khác nhau về địa hình nên nền văn hóa cũng khác nhau mang đặc trưng của vùng miền đó. Điều kiện thứ hai xã hội, đó là mối quan hệ giữa con người với con người. Có những nơi con người sống trong điều kiện xã hội hòa bình, mọi người được hưởng chế độ như nhau với những nơi có điều kiện xã hội khủng hoảng hay xảy ra chiến tranh thì văn hóa vùng đó cũng mang nét riêng.” Văn hóa mang đậm tính nhân loại, điểm khác nhau giữa những nền văn hóa cộng đồng chính là tinh thần nhân văn của văn hóa ấy.
Có thể nói tính sáng tạo chính là cốt lõi của văn hóa. Mỗi nền văn hóa là một hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần và thể hiện sự lớn mạnh cũng như trình độ của dân tộc. Đó chính là những quan niệm về văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm [19, tr. Khác với nhận định của tác giả Trần Ngọc Thêm, nhà nghiên cứu Ra-hát- ma Nê Ru nhận định về văn hóa theo góc độ tư tưởng, đạo đức và lối sống của cộng đồng dân tộc.
Ông cho rằng thước đo sự tiến bộ của loài người nằm ở hệ tư tưởng, lối suy nghĩ của con người. Tư tưởng sống quyết định đến sự phát triển của một dân tộc. Tất cả các hoạt động diễn ra đều cần có hệ tư tưởng đúng. Ví dụ như một tác phẩm nghệ thuật cũng cần có hệ tư tưởng khi xây dựng hình tượng hóa nhân vật thì mới được coi là một tác phẩm nghệ thuật hay.
Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người. Ăng-ghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động sản xuất cơ bản đó là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Do đó, có hai loại hình văn hóa, đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. - Văn hóa tinh thần: Đây là một loại hình văn hóa gắn liền với các tín ngưỡng, phong tục tập quán của con người.
Đó là một hình thức văn hóa phi vật thể được tạo ra nhờ lao động và óc sáng tạo của con người. - Văn hóa vật chất: Đó là các giá trị tạo ra để phục vụ đời sống của con người. Đó là các vật thể, đồ dùng mà con người tạo ra trong quá trình lao động sản xuất. Ví như: các loại máy móc được sử dụng trong nông nghiệp, nhà máy 11 xí nghiệp hay các thiết bị giao thông, xe máy, tô hay các phương tiện di chuyển,,, đều là những vật thể cần thiết trong đời sống con người và thể hiện khả năng sáng tạo, trí tuệ của các thế hệ.
Có những giá trị vật thể được cả thế giới ghi nhận như đấu trường La Mã ở Rome, tòa nhà Kaaba ở thánh địa Mecca, hay Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh Trung Quốc,… đều là những nền văn hóa vật chất mang đậm giá trị văn hóa của dân tộc đó. Văn hóa vật chất phản ánh sự lớn mạnh của một dân tộc. Dựa theo những quan niệm trên chúng ta thấy văn hóa góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện con người. Có thể nhìn nhận văn hóa là một nền thiên nhiên có sẵn của con người và là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người.
Khi con người được áp dụng các giá trị văn hóa vào đời sống lúc đó họ sẽ dần trở nên hoàn thiện hơn, họ sẽ biết cách tự ý thức và điều chỉnh ý thức theo hướng tích cực. Tuy nhiên, nếu con người không có văn hóa, không áp dụng văn hóa vào đời sống của bản thân thì họ sẽ bị tha hóa và có lối sống lạc lối, không có ích cho cuộc sống. Tìm hiểu các chức năng của văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn bản chất của văn hóa và vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội; đặc biệt là trong các sáng tác nghệ thuật như: văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc… 1. Văn hóa truyền thống Giá trị văn hóa chính là sự kết tinh của những gì tốt đẹp nhất của mọi thời đại và tạo nên nét đẹp cho thời đại đó.
Đó là động lực từ bên trong tạo tiền đề cho sự phát triển của dân tộc. Mỗi quốc gia đều có nền văn hóa truyền thống của riêng mình. Có nhiều nhận định khác nhau của các tác giả về văn hóa truyền thống như sau: Giáo sư Trần Văn Giàu nhận định về văn hóa truyền thống là những giá trị tốt cơ bản và mới có nhiều tác dụng tích cực đến đạo đức của con người. Những điều mới và tốt đó có tác dụng hướng dẫn, đánh giá các hành động của một dân tộc và mang giá trị truyền thống được truyền đạt qua các thế hệ, đồng thời có sự điều chỉnh cho phù hợp.
12 Tác giả Trần Ngọc Thêm có cái nhìn khác về văn hóa truyền thống. Ông đã đưa ra các biện chứng để chứng minh văn hóa truyền thống mang giá trị tương đối ổn định và được tích lũy qua thời gian dài. Văn hóa truyền thống thể hiện những kinh nghiệm của tập thể cộng đồng được truyền tải qua các thế hệ và mang tính khuôn mẫu xã hội. Người ta có thể nhắc đến văn hóa truyền thống dưới dạng hình thức như phong tục địa phương, dư luận xã hội, lễ hội đền chùa,…[19, tr.
Dưới góc nhìn của Trần Nguyên Việt thì ta thấy: “Văn hóa truyền thống là một phần tất yếu của xã hội. Nó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình hình thành ý thức xã hội, tạo nên các giá trị văn hóa tinh thần và vật chất cho con người. Văn hóa truyền thống mang giá trị ổn định với từng con người và cộng đồng người [25, tr. Qua phân tích những biện chứng của các học giả đưa ra để chứng minh cho cách nhìn nhận của bản thân về văn hóa truyền thống, chúng tôi nhận thấy rằng: Văn hóa truyền thống là nét đẹp của mỗi đất nước.
Nó được người dân tôn trọng, lưu giữ và bảo tồn. Văn hóa truyền thống là hiện thân trong nét đẹp văn minh của nhân loại. Những chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, những nếp sống thanh minh lịch sự, hay các phong tục tập quán của từng vùng miền,… đều là cách thể hiện của văn hóa truyền thống. Giá trị của văn hóa truyền thống tương đối ổn định, bền vững trở thành những nguyên lý đạo đức của xã hội.
Là nền tảng thúc đẩy sự lớn mạnh của quốc gia. Chính vì vậy, mỗi dân tộc cần bảo vệ, duy trì và phát triển các giá trị văn hóa, làm điểm tựa đề sáng tạo các giá trị văn hóa mới và là cơ sở để giao lưu văn hóa quốc tế. Văn hóa truyền thống yêu nước Văn hóa truyền thống yêu nước của người Việt Nam được hình thành từ lâu đời, qua các sự kiện lịch sử quan trọng như kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đấu tranh giành độc lập và sự phát triển của đất nước. Yêu nước không chỉ là một truyền thống, mà còn là một nét đẹp văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam, được trân trọng và tuyên dương trong suốt lịch sử của đất nước.
13 Văn hóa truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam theo quan điểm của Nguyễn Huy Đạo: “Yêu nước là sức mạnh của nguồn cội, là ý chí chiến đấu bất khuất của dân tộc ta trước giặc ngoại xâm”. Ông đã đưa ra được những hành vi, việc làm cụ thể để cho mỗi người dễ thực hiện văn hóa truyền thống yêu nước. Cụ thể như việc yêu quý, tôn trọng những người thân trong gia đình; biết ơn tổ tiên, tự hào về vẻ đẹp của non sông đất nước, hay những việc làm dù là nhỏ nhất như bỏ rác đúng nơi quy định, chung tay bảo vệ môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp,… Truyền thống yêu nước luôn là một phẩm chất cơ bản trong việc hình thành nhân cách của con người Việt Nam [5, tr. Dưới góc nhìn của tác giả Lê Thị Minh Tân, văn hóa truyền thống yêu nước là tình yêu với quê hương đất nước, từ thế hệ trẻ với những thành quả của các thế hệ trước đã xây dựng và bảo vệ.
Tác giả nhận thấy rằng văn hóa truyền thống yêu nước là một giá trị đạo đức quý báu của dân tộc.