Tổng quan luận án
Vấn đề quản lý và khai thác biển đảo có vị trí chiến lược đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, phát triển kinh tế và bang giao quốc tế của các quốc gia ven biển. Nằm trên bờ Tây Biển Đông, Việt Nam sở hữu vùng biển đảo giàu tài nguyên sinh vật, khoáng sản, mạng lưới cửa biển, vũng vịnh sâu kín gió và án ngữ trên các hải trình huyết mạch nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, triều Nguyễn (1802-1884) là vương triều cuối cùng, xác lập quyền thống trị trên một lãnh thổ và lãnh hải thống nhất từ Bắc chí Nam. Thế kỷ XIX chứng kiến biến động phức tạp khi chủ nghĩa tư bản phương Tây gia tăng bành trướng vào phương Đông, đặt triều đình Huế trước áp lực kép: vừa phải củng cố an ninh, phòng thủ trước nguy cơ xâm lấn từ biển, vừa phải điều hành hoạt động kinh tế biển đảo phục vụ nhu cầu ngân khố và sinh kế xã hội.
Tác giả luận án chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình học thuật trước đây thường tập trung nhiều vào khía cạnh xác lập chủ quyền, an ninh quốc phòng hoặc khảo sát hoạt động thương mại thời chúa Nguyễn và giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII. Trong khi đó, vấn đề quản lý nhà nước đối với việc khai thác các nguồn lợi kinh tế biển đảo dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884 chưa được tổng kết một cách toàn diện và có hệ thống. Đồng thời, trong giới nghiên cứu vẫn còn những ý kiến tranh luận hoặc định kiến giản đơn cho rằng triều Nguyễn hoàn toàn "bế quan tỏa cảng" hay "người Việt quay lưng lại với biển". Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống các chính sách và hoạt động thực tế của triều Nguyễn trong quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo là đòi hỏi khoa học cần thiết, cung cấp cứ liệu lịch sử phục vụ việc hoạch định chiến lược kinh tế biển hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đi đến nhận thức hệ thống và toàn diện về vấn đề quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất, mô tả và phân tích hoạt động xây dựng bộ máy tổ chức Nhà nước Nguyễn (ở trung ương và địa phương) trong quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo và đảm bảo an toàn khai thác.
- Thứ hai, mô tả và phân tích chính sách, biện pháp, hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi giao thương biển (giao thông, hải vận, hải thương).
- Thứ ba, mô tả, phân tích chính sách, biện pháp, hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi tài nguyên biển đảo.
- Thứ tư, đánh giá các hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn ở thế kỷ XIX (1802-1884) và những bài học kinh nghiệm từ quản lý, khai thác nguồn lợi này của triều Nguyễn.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884, được tiếp cận trên hai khía cạnh: (1) Hoạt động quản lý nhà nước thông qua hệ thống tổ chức bộ máy từ trung ương đến địa phương, các định chế pháp luật, lệ định, văn bản hành chính (luật, châu bản, hội điển) và quá trình thực thi quyền lực cưỡng chế; (2) Hoạt động quản lý kinh tế đối với nguồn lợi giao thương biển và nguồn lợi tài nguyên biển đảo, trong đó an ninh và phòng thủ được xem xét dưới góc độ biện pháp đảm bảo an toàn cho khai thác.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi không gian: Vùng duyên hải, vùng biển và hải đảo (ven bờ và ngoài khơi) trải dài từ Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) đến Hà Tiên (Kiên Giang ngày nay); không phận trên biển không thuộc phạm vi khảo cứu. Từ năm 1862, những phần lãnh thổ, lãnh hải bị thực dân Pháp chiếm đóng theo các hòa ước không thuộc phạm vi tập trung nghiên cứu.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 (khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lập ra triều Nguyễn) đến năm 1884 (khi triều đình ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt / Giáp Thân, chấm dứt quyền tự chủ hoàn toàn của vương triều). Khung thời gian này bao gồm các triều đại: Gia Long (1802-1819), Minh Mệnh (1820 - đầu 1841), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883), Dục Đức (1883), Hiệp Hòa (1883), Kiến Phúc (1884).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai nhóm nguồn lợi chính gồm: (1) Quản lý, khai thác nguồn lợi giao thương biển (hải vận, giao thông, hải thương nhà nước và tư nhân); (2) Quản lý, khai thác nguồn lợi tài nguyên biển đảo (tài nguyên sinh vật gồm hải sản ven bờ, ngoài khơi, tổ yến, ngọc trai; tài nguyên phi sinh vật gồm muối biển và hóa vật trôi dạt từ tàu đắm). Các tài nguyên chưa được nhận thức hay khai thác trong thế kỷ XIX (như dầu khí, khoáng sản đáy biển sâu, du lịch, hàng không) và vấn đề khai hoang duyên hải không thuộc nội dung khảo sát chuyên sâu của đề tài.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu được tác giả phân tích theo hai nhóm ấn phẩm:
Nhóm nghiên cứu gián tiếp:
- Về quản lý khai thác, xác lập chủ quyền: Các công trình nghiên cứu đương đại như Quản lý biển của Lê Đức Tố, Hoàng Trọng Lập, Trần Công Trục, Nguyễn Quang Vinh (2005); bài viết của Nguyễn Đăng Đạo (2011); luận án và chuyên khảo của Nguyễn Thanh Minh (2013, 2016); Báo cáo tổng kết của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2015); Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam của Nguyễn Duy Thiệu (2020). Lịch sử xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo được đề cập trong Lịch sử Phú Quốc qua tài liệu lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (2012); các tập sách do Đỗ Bang chủ biên (2014, 2017, 2020); công trình về Cù Lao Ré của Dương Hà Hiếu (2015, 2020); các bài viết của Trần Nam Tiến (2018), Huỳnh Tâm Sáng (2018). Mảng đề tài Hoàng Sa, Trường Sa có các nghiên cứu của Nguyễn Quang Ngọc (1999, 2011, 2012, 2017); Nguyễn Nhã (2002); nhóm tác giả Nguyễn Nhã, Nguyễn Đình Đầu, Lê Minh Nghĩa, Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt (2008); Nguyễn Đình Đầu (2014); Lại Văn Tới (2017); Monique Chemillier-Gendreau (1998); Nguyễn Bá Diễn (2012).
- Về an ninh và phòng thủ biển đảo: Công trình của Nguyễn Phan Quang (2002); Đỗ Bang (2011, 2014); Bùi Gia Khánh (2013, 2015, 2018); Lê Tiến Công (2015, 2017); Lưu Trang (2004); Lưu Thị Toán (2007, 2010); Phạm Xanh và Nguyễn Ngọc Mão (2007); Nguyễn Thị Phương Chi và Trần Thị Hữu Hạnh (2011). Các nghiên cứu quốc tế có bài viết của Frédéric Mantienne (2003), Vũ Hướng Đông (2009), Vu Duc Liem (2018) khảo sát về kỹ thuật quân sự, thủy quân và ý thức biển thời Minh Mệnh.
Nhóm nghiên cứu trực tiếp:
- Nghiên cứu về giao thương biển thời kỳ trước triều Nguyễn: Đỗ Văn Ninh (2004), Nguyễn Văn Kim (2016) khảo cứu về thương cảng Vân Đồn; Nguyễn Văn Kim (2013), Nguyễn Văn Chuyên (2021) nghiên cứu về các cảng biển Bắc Trung Bộ; Đỗ Thị Thùy Lan (2013, 2015, 2018) nghiên cứu hệ thống cảng thị Đàng Ngoài; cùng các công trình của Thành Thế Vỹ (1961), Nguyễn Đức Nhuệ (1996), Lục Đức Thuận (2001), Trần Thị Vinh (2007), Trương Thị Yến (2007), Hoàng Anh Tuấn (2007), Nguyễn Mạnh Dũng (2007).
- Nghiên cứu về thời Nguyễn: Công trình của Lê Thị Kim Dung (1998) về ngoại thương thời Minh Mệnh, Trương Thị Yến (2004) về chính sách ngoại thương nửa đầu thế kỷ XIX.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố nghiên cứu riêng rẽ từng mảng: hoặc nhấn mạnh yếu tố quân sự, chủ quyền biên giới hải đảo, hoặc đi sâu vào giai đoạn thế kỷ XVI-XVIII, hoặc chỉ phân tích ngoại thương thời kỳ Minh Mệnh. Chưa có công trình nào khảo sát tổng thể và xuyên suốt việc quản lý nhà nước đối với toàn bộ các nguồn lợi biển đảo (cả giao thương và tài nguyên thiên nhiên sinh vật, phi sinh vật) trong suốt tiến trình 1802-1884 dưới triều Nguyễn. Luận án điền vào khoảng trống này bằng cách phục dựng bức tranh tổng thể về cơ chế chính sách, hoạt động thực thi của bộ máy hành chính và hiệu quả quản lý kinh tế biển đảo của vương triều.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành, lấy Sử học làm trung tâm, kết hợp với Khoa học quản lý và Kinh tế học:
- Khung lý thuyết "Địa lý học lịch sử": Đưa góc nhìn địa - lịch sử và địa - văn hóa (theo triết lý của GS. Trần Quốc Vượng) vào nghiên cứu, kết hợp các yếu tố khoa học tự nhiên (địa mạo bờ biển, luồng lạch, chế độ gió mùa, hải lưu, ngư trường) để lý giải vị thế cảng biển và phân bố sản vật.
- Cách tiếp cận "Góc nhìn từ biển" (A view from the Sea): Tiếp thu các quan điểm của John K. Whitmore, Li Tana, Charles Wheeler, Roderich Ptak nhằm khắc phục thiên vị đất liền và văn minh đồng bằng nông nghiệp thuần túy. Luận án kết hợp với luận điểm của Edyta Roszko xem "đại dương như một không gian tích hợp", đặt mối quan hệ giữa biển và đất liền trong sự gắn kết thông qua hệ thống sông ngòi, cửa biển, hải cảng và trung tâm ven bờ.
- Khung phân tích công cụ quản lý nhà nước:
- Công cụ quy định pháp luật (regulation instruments): Thể hiện qua hệ thống luật lệ (Hoàng Việt luật lệ), điển chế (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ) và các chỉ dụ, châu bản.
- Công cụ đòn bẩy tài chính và kinh tế (financial incentive instruments): Gồm chính sách thuế điều tiết (regulatory taxes - thuế thuyền buôn, thuế thuyền cá, ngạch thuế cảng); công cụ thị trường (market instruments - độc quyền nhà nước đối với yến sào, ngọc trai, khoáng sản, quy định danh mục hàng cấm xuất nhập khẩu); công cụ trợ cấp (subsidies instruments - cấp vốn sinh kế, cho vay gạo cứu trợ, cấp phát vũ khí cho thuyền dân).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích: Tái hiện diễn biến chính sách và hoạt động quản lý theo trục thời gian từ năm 1802 đến 1884.
- Phương pháp so sánh: Vận dụng ở hai chiều kích: so sánh lịch đại (đối chiếu triều Nguyễn với các thời Lý, Trần, Lê sơ, chúa Nguyễn, Tây Sơn; đối chiếu chính sách giữa các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức) và so sánh đồng đại (đối sánh chính sách quản lý và mức độ khai thác giữa các vùng Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
- Phương pháp khu vực học, phương pháp chuyên gia, hệ thống, phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và lượng hóa các dữ liệu lịch sử về ngạch thuyền, sản lượng vận tải, biểu thuế cảng và thuế sản vật.
- Khảo sát điền dã và khảo cổ học: Tác giả tiến hành khảo sát thực địa tại các tỉnh ven biển: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận; khảo cứu các di tích phòng thủ và cảng biển (Hải Vân quan, pháo đài Biện Sơn) cùng các hiện vật tàu đắm.
Nguồn tư liệu khai thác:
- Nguồn thư tịch cổ triều Nguyễn: Đại Nam thực lục (tiền biên và chính biên), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Châu bản triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Quốc triều chính biên toát yếu, Minh Mệnh chính yếu, Địa bạ triều Nguyễn.
- Trước tác cá nhân và địa chí: Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Hải trình chí lược (Phan Huy Chú), Nhật ký đi Tây (Phạm Phú Thứ), các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch.
- Ghi chép của phương Tây: Hải trình và nhật ký ngoại giao của Jeremiah Briggs (1803), John White (1819-1820), John Crawfurd (1823), Edmund Roberts (1832, 1836), John Percival (1845), Joseph Balestier (1850).
- Tư liệu văn bia, thần tích, hương ước làng chài ven biển và kết quả khảo sát điền dã.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và bối cảnh lịch sử tác động đến vấn đề quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài và phân tích bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế thế kỷ XIX. Về bối cảnh quốc tế, cuộc cách mạng công nghiệp thúc đẩy các cường quốc phương Tây mở rộng thị trường sang châu Á, tạo ra sức ép hải quyền lớn đối với các quốc gia phương Đông. Về bối cảnh trong nước, sau năm 1802, triều Nguyễn quản lý một dải lãnh thổ thống nhất từ Lạng Sơn đến Hà Tiên với đường bờ biển dài. Biển đảo Đại Nam giàu tài nguyên sinh vật và giữ vị trí đầu mối trên các tuyến hải thương khu vực. Luận án phân tích tính kế thừa của triều Nguyễn từ kinh nghiệm quản lý biển của các nhà nước quân chủ trước đó (nhà Lý lập trang Vân Đồn năm 1149; nhà Trần, Lê sơ kiểm soát cửa biển; chính quyền chúa Nguyễn và Tây Sơn tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải khai thác và xác lập chủ quyền trên Biển Đông).
Chương 2. Tổ chức bộ máy quản lý và đảm bảo an toàn hoạt động khai thác nguồn lợi biển đảo
Chương này phân tích nhận thức của triều Nguyễn và cấu trúc bộ máy nhà nước:
- Về nhận thức: Các vua triều Nguyễn, đặc biệt là Gia Long và Minh Mệnh, nhận thức rõ hải phận quốc gia, giá trị tài nguyên biển và mối đe dọa an ninh thường trực từ hướng biển. Triều đình xác lập quan điểm phòng thủ ven biển là trọng yếu đối với sự tồn vong của chế độ.
- Tổ chức bộ máy quản lý:
- Cấp trung ương: Quản lý theo cơ chế phối hợp đa ngành giữa các bộ: Bộ Binh (chỉ huy thủy quân, phòng thủ duyên hải), Bộ Hộ (thu thuế thuyền, thuế sản vật biển, quản lý kho tàng), Bộ Công (đóng tàu thuyền, nạo vét luồng lạch, xây dựng pháo đài, công sự), Bộ Lễ (tế lễ hải thần, tiếp đón thuyền buôn và phái đoàn ngoại giao); cùng các cơ quan chuyên trách như Nội vụ phủ, Vũ khố, và Tào chính ty (phụ trách vận tải đường thủy).
- Cấp địa phương: Quan đầu tỉnh (Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát) trực tiếp quản lý hành chính; bên dưới là các cơ quan quản lý chuyên biệt tại duyên hải như tấn thủ, thủ ngự, thương chánh tại các cửa biển và hải đảo.
- Biện pháp bảo đảm an toàn khai thác:
- Xây dựng lực lượng thủy quân chính quy, trang bị tàu thuyền tuần tra (thuyền bọc đồng, tàu chạy hơi nước thời Minh Mệnh, Thiệu Trị).
- Cấp phát phương tiện quan sát: Quy định cấp kính thiên lý cho các đơn vị phòng thủ ven biển (như Thủy sư Kinh kỳ, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng Ninh) để giám sát mặt biển từ xa.
- Hộ dẫn, nạo vét cửa sông, cắm mốc tiêu, đo đạc hải trình, vẽ bản đồ biển đảo; thực hiện tế lễ thần biển và ban hành chính sách cứu tế thuyền buôn bị bão gió, nạn biển (áp dụng cho cả cư dân Đại Nam và thuyền nhân ngoại quốc).
- Bố phòng đồn lũy, đài bác vọng (như Hải Vân quan, Biện Sơn) và tổ chức các đội tuần phòng ngăn chặn cướp biển Tàu Ô và giặc biển.
Dưới đây là số liệu quy định cấp phát kính thiên lý phục vụ công tác tuần phòng ven biển của triều Nguyễn:
| STT |
Địa phương / Đơn vị |
Số lượng trước năm 1838 |
Số lượng sau năm 1838 |
| 1 |
Thủy sư Kinh kỳ |
3 |
7 |
| 2 |
Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định |
1 |
2 |
| 3 |
Bình Định, Gia Định, An Giang, Hà Tiên, Hà Nội, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh |
1 |
2 |
| 4 |
Vĩnh Long, Định Tường, Biên Hòa, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng |
0 |
1 |
Chương 3. Quản lý, khai thác giao thương biển
Chương 3 trình bày các chính sách và hoạt động thực tế trong lĩnh vực giao thông vận tải và thương mại đường biển:
- Quản lý hải vận: Triều đình thực hiện cấp bài thuyền, giấy thông hành nhằm kiểm soát việc lưu thông trên biển; tổ chức mạng lưới hải vận nhà nước quy mô lớn gồm hai hệ thống: Nam tào và Bắc tào. Thuyền công vụ được phân loại thành thuyền "đại dịch" và "miễn dịch", vận tải khối lượng lớn thóc gạo, quân lương, tiền tệ từ Nam Kỳ và Bắc Kỳ về kinh đô Huế.
Dưới đây là bảng tổng hợp số lượng thuyền vận tải và tuần tra gặp sự cố hàng năm dưới triều Tự Đức (giai đoạn 1848-1883):
| Năm |
Tổng số thuyền đi vận tải, tuần tra, do thám |
Số thuyền hỏng việc (bão gió, cướp biển, tàu phương Tây bắn phá) |
| Mậu Thân (1848) |
330 |
25 |
| Canh Tuất (1850) |
370 |
11 |
| Nhâm Tý (1852) |
612 |
45 |
| Ất Mão (1855) |
650 |
17 |
| Canh Thân (1860) |
317 |
17 |
| Tân Dậu (1861) |
583 |
50 |
| Nhâm Tuất (1862) |
59 |
3 |
| Đinh Mão (1867) |
362 |
52 |
| Nhâm Thân (1872) |
416 |
40 |
| Bính Tý (1876) |
458 |
22 |
| Tân Tỵ (1881) |
276 |
36 |
| Quý Mùi (1883) |
69 |
19 |
- Hoạt động công cán nước ngoài: Triều Nguyễn (đặc biệt dưới thời Minh Mệnh) thường xuyên cử các đoàn quan lại đi công cán bằng đường biển sang các nước Đông Nam Á như Hạ Châu (Singapore), Giang Lưu Ba (Batavia/Jakarta), Lữ Tống (Luzon/Philippines), Bột Né (Borneo), Tam Ba Lăng, Penang, Calcutta (Ấn Độ) và các thương cảng Trung Quốc (Quảng Đông, Tô Châu, Hàng Châu). Mục đích công cán là mua sắm hàng hóa thiết yếu (vũ khí, len dạ, kim loại), học hỏi kỹ thuật phương Tây (như kỹ thuật đóng tàu hơi nước, đo đạc la bàn) và thám sát tình hình chính trị khu vực.
- Quản lý thương nghiệp:
- Đối với thương nhân trong nước: Triều đình ban hành ngạch thuế thuyền buôn (tính theo kích thước xà ngang tàu), quy định chặt chẽ các mặt hàng cấm mua bán (như gạo, muối, kim loại, súng đạn).
- Đối với thương nhân nước ngoài: Thuế cảng được phân loại chi tiết theo xuất xứ của thuyền buôn (thuyền Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Chiết, Triều Châu, Hải Nam, và tàu thuyền phương Tây). Thuyền buôn phương Tây và tàu từ các tỉnh lớn của Trung Quốc chịu mức thuế cao nhất, kèm theo các khoản tiền cơm nước, tiền quan cai tàu.
- Khai thác cảng biển: Quản lý hệ thống cửa biển và cảng thị lớn như Đà Nẵng, Thị Nại, Hội An, Gia Định, Phố Hiến; đến nửa cuối thế kỷ XIX, cảng Ninh Hải (Hải Phòng) được xây dựng và mở cửa cho tàu buôn quốc tế (Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Trung Quốc) cập bến buôn bán.
Dưới đây là bảng thuế cảng quy định năm 1803 theo nguồn gốc thuyền buôn tại các nhóm cửa biển:
| Cửa biển áp dụng |
Mức thuế thuyền Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải, Ma Cao, phương Tây |
Mức thuế thuyền Triều Châu |
Mức thuế thuyền Hải Nam |
| Gia Định |
4.000 quan |
3.000 quan |
724 quan |
| Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình |
2.400 quan |
1.800 quan |
434 quan 4 tiền |
| Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Bắc Thành |
3.200 quan |
2.400 quan |
579 quan 2 tiền |
| Quảng Ngãi, Nghệ An, Thanh Hóa |
2.800 quan |
2.100 quan |
506 quan 8 tiền |
Chương 4. Quản lý, khai thác tài nguyên biển đảo
Chương 4 phân tích các chính sách cụ thể đối với từng loại tài nguyên thiên nhiên:
- Quản lý và khai thác muối: Muối là sản vật thiết yếu do triều đình kiểm soát gắt gao. Luận án thống kê các ruộng muối ven biển tập trung tại Hải Dương, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Triều đình áp dụng chế độ thu thuế bằng muối phơi hoặc nấu (như tại Nghệ An, mỗi suất nộp 50 bồ muối) và quy định chặt chẽ mạng lưới vận chuyển, cấm việc tư nhân buôn bán muối trái phép xuyên vùng.
- Quản lý khai thác tổ yến và ngọc trai: Đây là các mặt hàng quý hiếm thuộc quyền kiểm soát trực tiếp của nhà nước.
- Khai thác tổ yến: Tập trung tại các vách đá, hải đảo thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa. Nhà nước lập các đội chuyên trách khai thác hoặc thu thuế bằng hiện vật tổ yến chất lượng cao. Thuế quy đổi bằng tiền đối với 1 cân tổ yến hạng xấu lên tới 10 quan, hạng đen lẫn lông là 5 quan. Triều đình áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi trộm cắp, giấu giếm yến sào: tang vật từ 1 lạng trở xuống bị phạt đánh 60 trượng và 1 năm tù khổ sai ("đồ"); từ 20 đến 30 lạng bị phạt 100 trượng và đi đày ("lưu") từ 2.000 đến 3.000 dặm.
- Khai thác ngọc trai: Tổ chức mò ngọc tại các vùng biển Quảng Yên, Bình Thuận, Phú Quốc, nộp về kho nội vụ.
- Quản lý đánh bắt hải sản: Nhà nước đánh thuế trên các phương tiện đánh bắt (thuyền đánh cá, lưới đăng, lưới quăng, trại đáy) và thu mua sản vật khô (tôm khô, vi cá, hải sâm). Tại Hà Tiên, các trại lưới đáy nước nộp thuế bằng tôm gạo khô lớn và nhỏ (thuế tôm gạo khô nhỏ cao gấp gần 5 lần tôm gạo khô lớn). Đồng thời, triều đình quy định kích thước mắt lưới, huy động ngư dân tham gia hộ tống, kéo tàu hoặc phục vụ vận tải khi có lệnh, đi kèm các biện pháp miễn giảm thuế, cứu trợ khi gặp bão lụt nhằm ổn định sinh kế làng chài.
- Quản lý, khai thác tại Hoàng Sa và Trường Sa: Triều Nguyễn tiếp tục duy trì và quy chuẩn hóa hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải từ thời Gia Long; đến thời Minh Mệnh, nhà nước trực tiếp điều động lực lượng thủy quân và binh lính cơ mật ra hai quần đảo này hàng năm để đo đạc hải trình, vẽ bản đồ, cắm cọc mốc chủ quyền, xây dựng miếu thờ, trồng cây làm dấu hiệu nhận biết luồng lạch cho tàu bè qua lại, kết hợp thu lượm hải sản và hóa vật tàu đắm trôi dạt.
Kết quả và những đóng góp mới
- Luận án hệ thống hóa toàn diện các chính sách, định chế pháp luật và biện pháp quản lý nhà nước của triều Nguyễn đối với nguồn lợi biển đảo trong giai đoạn 1802-1884, dựa trên nguồn tư liệu phong phú gồm châu bản, hội điển, chính sử và các ghi chép của nhân chứng đương thời.
- Công trình chứng minh bước phát triển trong nhận thức và tư duy chiến lược của các vị vua đầu triều Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh) về biển đảo, hải phận và kinh tế biển; góp phần đính chính những nhận định phiến diện trước đây cho rằng triều Nguyễn hoàn toàn "bế quan tỏa cảng" hoặc "quay lưng lại với biển". Thực tế, triều đình đã chủ động tổ chức nhiều chuyến công cán ngoại thương đường biển sang các nước Đông Nam Á để mua sắm vật tư và học hỏi công nghệ phương Tây.
- Luận án cung cấp các bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định tính liên tục, chính quy trong quá trình xác lập, quản lý và thực thi chủ quyền của nhà nước Việt Nam trên các vùng biển đảo, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt thế kỷ XIX.
- Luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử: bài học về xây dựng bộ máy hành chính ven biển đồng bộ, chặt chẽ; bài học về việc kết hợp hữu cơ giữa an ninh quốc phòng với phát triển kinh tế biển; và bài học về sự cần thiết phải duy trì sức mạnh kinh tế biển vững chắc để tạo nền tảng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lâu dài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi: Do biến động chính trị sau năm 1862 khi thực dân Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, phạm vi quản lý của triều đình bị thu hẹp dần, do đó các vùng biển đảo thuộc Nam Kỳ sau thời điểm này không được khảo sát liên tục trong mối liên hệ với chính quyền Huế. Đề tài cũng chưa khảo cứu các loại hình tài nguyên biển đảo mà khoa học kỹ thuật thế kỷ XIX chưa cho phép nhận thức (như dầu khí, tài nguyên đáy biển sâu, tiềm năng du lịch).
- Hạn chế về mảng nội dung: Hoạt động khai hoang lấn biển vùng duyên hải thời Nguyễn (như công cuộc lập huyện Tiền Hải, Kim Sơn) là vấn đề lớn nhưng chưa thể đi sâu chi tiết do giới hạn dung lượng của luận án và cần được giải quyết trong một chuyên khảo độc lập.
- Hạn chế về nguồn tư liệu: Các tài liệu thư tịch chính sử triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Hội điển) chủ yếu phản ánh chính sách ở cấp độ vĩ mô từ góc nhìn của giai cấp thống trị. Các tư liệu phản ánh hoạt động thực tế ở cấp độ vi mô của cư dân ven biển (hương ước, sổ bộ làng chài, gia phả) còn tản mát, khiến việc tái hiện bức tranh sinh hoạt kinh tế dân gian chưa thật đầy đủ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục sưu tầm và xử lý các nguồn tư liệu dân gian, địa phương chí, tư liệu điền dã dân tộc học và khảo cổ học biển đảo; mở rộng nghiên cứu mối quan hệ giữa công cuộc khẩn hoang duyên hải với tổ chức kinh tế biển đảo dưới triều Nguyễn.
Giá trị tham khảo
- Đối với giới nghiên cứu và giảng dạy: Luận án là tài liệu chuyên khảo tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Địa lý học lịch sử và Khoa học quản lý; cung cấp hệ thống số liệu tra cứu về ngạch thuyền, cước phí vận tải, thuế quan và hải trình thế kỷ XIX.
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử xác thực hỗ trợ công tác đấu tranh pháp lý bảo vệ chủ quyền biển đảo; gợi mở các bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng thể chế quản lý nhà nước thống nhất về biển và giải quyết mối quan hệ giữa an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển.
- Các phần đáng tham khảo: Chương 2 về mô hình tổ chức bộ máy quản lý và tuần phòng biển; Chương 3 về mạng lưới hải vận nhà nước và biểu thuế cảng; Chương 4 về quản lý tài nguyên và hoạt động xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa; cùng hệ thống 38 phụ lục thống kê tư liệu gốc.
Câu hỏi thường gặp
-
Bộ máy quản lý biển đảo của triều Nguyễn ở cấp trung ương được phân công nhiệm vụ như thế nào?
Ở cấp trung ương, triều Nguyễn tổ chức quản lý biển đảo theo cơ chế liên bộ: Bộ Binh chịu trách nhiệm chỉ huy thủy quân, bố phòng đồn lũy và tuần tiễu mặt biển; Bộ Hộ quản lý ngạch thuế thuyền bè, thuế sản vật biển và kho tàng; Bộ Công đảm trách đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, nạo vét cửa biển và xây dựng công trình phòng thủ; Bộ Lễ phụ trách việc đón tiếp thuyền buôn, phái đoàn ngoại giao và tế lễ hải thần. Ngoài ra, Tào chính ty trực tiếp điều hành mạng lưới thuyền vận tải đường biển của nhà nước.
-
Mạng lưới vận tải lương thực đường biển (hải vận) về kinh đô Huế có quy mô như thế nào?
Hải vận là phương thức vận tải chiến lược của triều Nguyễn, chia làm hai đoàn thuyền Nam tào và Bắc tào. Khối lượng gạo, thóc vận chuyển từ Nam Kỳ và Bắc Kỳ về Kinh thành hàng năm lên tới hàng trăm ngàn phương gạo. Ví dụ vào năm 1839, Bắc Kỳ vận tải 500.000 phương gạo, trong khi Nam Kỳ vận tải 60.000 phương gạo và 100.000 hộc thóc; năm 1843, Bắc Kỳ chuyển về 600.000 phương gạo và 150.000 quan tiền, Nam Kỳ chuyển 60.000 phương gạo và 50.000 hộc thóc.
-
Triều đình áp dụng chế tài gì đối với hành vi khai thác trộm tổ yến?
Tổ yến là sản vật do triều đình kiểm soát độc quyền và đánh thuế rất cao. Theo quy định của triều Nguyễn, người có hành vi khai thác trộm yến sào bị xử phạt lũy tiến theo số lượng tang vật: tang vật từ 1 lạng trở xuống bị phạt đánh 60 trượng và phạt tù khổ sai 1 năm; tang vật từ 1 lạng đến 5 lạng bị đánh 70 trượng và 1 năm tù; tang vật từ 15 lạng bị đánh 90 trượng và tù 2 năm rưỡi; từ 20 đến 30 lạng bị phạt 100 trượng và đi đày từ 2.000 đến 3.000 dặm.
-
Mục đích chính của các chuyến công cán nước ngoài bằng đường biển dưới thời vua Minh Mệnh là gì?
Từ năm 1820 đến 1840, triều đình phái nhiều đoàn tàu sang các địa bàn Đông Nam Á (Hạ Châu, Giang Lưu Ba, Lữ Tống, Penang) và Trung Quốc. Mục đích chủ yếu là: mua sắm vũ khí, quân nhu, hàng hóa đặc biệt theo danh mục của Nội vụ phủ; thao diễn thủy quân đường dài; tìm hiểu địa hình sông núi, phong tục các nước; học hỏi công nghệ phương Tây (cách chế tạo tàu hơi nước, sử dụng la bàn); và do thám, nắm bắt các biến động chính trị trong khu vực.
-
Nhà nước Nguyễn thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng những biện pháp nào?
Triều đình duy trì các đội Hoàng Sa và Bắc Hải, đồng thời cử định kỳ lực lượng thủy quân và biền binh ra Hoàng Sa, Trường Sa hàng năm vào mùa biển êm (từ tháng 2 đến tháng 3 âm lịch). Lực lượng này tiến hành khảo sát, đo đạc hải trình, vẽ bản đồ, cắm cọc tiêu xác lập chủ quyền, dựng miếu thờ, trồng cây xanh để định hướng luồng tàu, thu lượm sản vật biển và hóa vật cứu hộ từ các xác tàu đắm.
Kết luận
Luận án của tác giả Đinh Thị Hải Đường đã phục dựng một cách hệ thống và toàn diện bức tranh quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn trong giai đoạn 1802-1884. Dựa trên nguồn sử liệu phong phú từ châu bản, hội điển đến tư liệu phương Tây và khảo sát điền dã, công trình phân tích chi tiết cơ cấu bộ máy quản lý, hoạt động hải vận, ngoại thương cùng các chính sách khai thác tài nguyên sinh vật và phi sinh vật. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ tính liên tục trong việc thực thi chủ quyền quốc gia trên Biển Đông và bác bỏ luận điểm phiến diện cho rằng triều Nguyễn hoàn toàn quay lưng lại với biển. Công trình cung cấp các luận cứ lịch sử có giá trị khoa học, đúc kết bài học về việc kết hợp giữa phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh duyên hải.