mở đầu cũng nói răng:”. >3 X3‡# #4 AlAs \Z 8,£© Em f R5 §†5 ĐÀ ñi H§R *x hãLH, Hiểm RPA Se m2, 5 —ft>f/äZ4m 8ã) h 5S #HIXZ5 ^^ H355 3B ĐI E,)†E6M4%, HBEAJMIRIEØ3, R>RIIRRKMEEE, ADAIR, 2S. S{F:-H#S hãi, 3$ SfñiT là mm s 7lZ—7E, REBT BS JFFPRTRETRZEH./ Sử làm sách gốm Thi, Thư, Xuân Thu, các sách chia ra để ghỉ chép về các thời Viêm Dé, 16 Thân Nông, những việc đã qua đã phai mờ dấu vết mà chỉ còn lại thanh danh. Từ đời Hiên Viên trở về trước, đã mờ mit về ghi chép mà sự hiển dụng còn rõ ràng.
Từ đời Đường về sau déu lưu lại day đủ sách cả trăm thiên, ấy là bởi được lưu lại thời Han. Các việc ghi chép một đời xong xuôi, thé mà thé tài ghi chép hết sức lạ lam, déo got lôi viết cứ dan dan khác nhau, ai ai cũng tự là Tuân Duyệt”, Viên Hoằng, nhà nhà tự coi là Ban Cổ, Tự Mã Thiên”. Thật là bò chở sách cũng toát mô hôi!”, các pho quyền cũng hết sức rồi ram, quy củ vào ra, nửa thuần nửa tạp, rộng rãi quá thì phiền hà, phức tạp quá thì khó xem, rút gọn lại thì đơn giản mà lược bớt thì dé bỏ sót, đại khái thì làm sử có năm điêu khó khăn ấy. Việc ghi chép phải quy về loi ghi đáng tin cây, mà luận sử thì phải nhất định, moi lời at phải quy chuẩn về lời của Thánh nhân (nhà vua).
” Sử thời xưa là sử của vương triều dành cho dé vương lĩnh hội tâm pháp của thánh nhân dé rút kinh nghiệm trị lý. Vì thế mục đích sáng tác NCLDSTL — một tác phẩm về sử trước hết để dành cho bản thân nhà vua, thứ tới lấy đó dé truyền day cho những người nối nghiệp về sau, điều này trong phần tựa tác phâm vua Thiệu Trị có viết: RBRE KM Hine, SRAM, 8Ø, lm)E2, 281 RK , BORE BAR Balt i , PRALBN RL 2B RR RSH IA rộng việc Trị bình, khuyên cái thiện răn cái ác, noi theo đời xưa mà làm chuẩn cho đời nay. Gương sáng công tâm, lắng lòng mà dé đạt tới cái Ly, đành tạm gom lại mà truyền dạy cho con cháu, khiến cho chúng biết rằng sự gian khó nhất mực của việc khai sáng, ngõ hau biết việc không dễ dàng chỉ của sự Thủ thành, rằng vua Nghiêu luôn lo âu, vua Thuần luôn trăn trở”. Phần tau của các qua đại thần cũng nói rõ thêm về mục đích ra đời tác pham: 4) 52 HEE #"#&XaZ=⁄ri#£#\I}JRR{LJR, HE ® Tuân Duyệt BE (148 — 209) tự là Trọng Dự, người Dĩnh Dương, Dĩnh Xuyên, nay là Hứa Xương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.
Ông là nhà chính trị, sử học, tư tưởng thời Đông Hán, phụng mệnh Hán Hiến dé viết cuốn sử Hán Ký. 7 Viên Hoằng RAB (328-— 376) tự là Ngạn Bá, người Dương Hạ Trần quận, nay là Thái Khang tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ông là nhà Huyền học, nhà sử học, văn học thời Đông Tan, kế thừa Tuân Duyệt viết tiếp Hậu Hán ký 8 Ban Cố (BEI 32 — 92) tự là Mạnh Kiên, nhà sử học thời Hán, tác giả sách Hán Thư, sách được sếp vào Nhị thập tứ sử. ? Tư Mã Thiên (B]§3Š 145 — 86 TCN) tự là Tử Trường, sử gia lỗi lạc thời Hán Vũ Dé, tác giả sách Sử Ký sách được sếp vào Nhị thập tứ sử.
© Nguyên văn: Hãn ngưu sung đồng, sách Lục văn thông mộ biểu của Liễu Tông Nguyên đời Đường, có câu: “kỳ vi thư, sử tắc sung đống vũ, xuất tắc hãn ngưu mã” (Làm sách âấy, sách vở chất đầy cột nhà, chở đi thì ngựa trâu cũng vã mồ hôi). Am chỉ sách vở rất nhiều.438 ! Sách Ngự chế lịch đại sử tổng luận phụng mệnh in khắc để phô bày nguồn giáo hoá, dé làm sáng việc văn trị [. 3 Z#AU3AIEtvW##£v|EH4S 8] RE, HES ZRE , th 5 EƒfT 1E, GG JXIFiSlf4J/Bác thánh nhân lập giáo, sử văn quán xuyến hết thay ở Kinh văn dé mở ra cái học cho đời sau ở chon vô cùng. Bồ sung không đây đủ của sử, người xét cổ có chỗ để khảo chứng, người luận về đạo Trị biết được chỗ dé ran ác khuyến thiện.
Quá trình hình hành tác phẩm qua các ghi chép chính sử 1. Trước khi Ngự chế lịch đại sử tổng luận trở thành một tác phẩm hoàn chỉnh thì phần nguyên luận của tác phẩm đã được vua Thiệu Trị viết xong và phần ngự văn này đã được đem vào trong sách Ngự ché sơ văn tap tH) #324). Trong phan lời tựa của vua (sau Ngự chế thi) rằng: EMER CSRS, AB EES—tE~§, NSS, HSH, NA, RMT, Ae lăfẪM, mEES ZS , BRREERE ,aRBinikt,Rinse,SE SRM, DBMS SHR , BH} —4, SHAR Mic LA RŸ/Duy là phan nguyên luận được viết trong Ngự chế sơ van tập, nhân việc các quan trong Nội các tau xin việc thời Minh Thanh, các sách thư sử bên ngoài it thấy mà cũng chẳng rõ ràng. Xin ưng thuận cho việc ban khắc thành tập riêng để ban hành, để phô bày ơn đến với rừng Nho, thêm khích lệ tu dưỡng học thức.
Vả lại phan nguyên luận tuyển chọn phan cốt yếu, nhưng vẫn chưa hết được ngọn nguon, nên mệnh cho Nho thân, tham khảo tin sử, theo từng khoản mà phụ chú, dé làm to cho việc dễ hiểu của người hậu học. Các quan chia thành 3 quyền, sự tuy ước lược mà biên niên các đời khá rõ. Và đoạn tau của các đại thần gồm Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Pham Khải, Lê Chân viết rằng: BS, WABER 3ãJ|z=[.]34š#§Itƒã, WEf«#?X*š* Z1SS/Bọn than, Dự chen hèn mon được hấu", thân đội lời chỉ dạy [. Cung kính căn cứ các thiên, bon than trước đó đã khâm mệnh phụng đăng trong Ngự văn sơ tập.
Ngự chế sơ văn tập #85848) 2329) & là tong hợp các trước tác của vua Thiệu Trị được sáng tác khi nhà vua khi còn là hoàng tử, đến khi lên ngôi thì được đem1n khắc, lưu hành được xem là bảo vật của hoàng gia. Trong bản phụng dụ ngày 20 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) của Nội các về việc thưởng cho những người u Nguyén van: Thiém sự xu bồi. Lời biểu khiêm tốn có ý nói rằng: Chúng thần Chi là kẻ hén mon được thừa cơ chen chân vào dé được hau vua. 18 tham gia khắc ván 1n, viết chữ cho các tập Thánh chế thi, Thánh chế văn, Thánh chế Thiên cơ dự triệu.trong đó nói rõ các quan biên soạn là Lâm Duy Nghĩa 3#@®%, Nguyễn Bá Nghi bt {4 4%, Nguyễn Cửu Trường ft 2 & và bộ sách Thanh chế văn (sơ tập) đã hoàn thành việc in khắc và ban cho trong kinh ngoài tỉnh”.
Như vậy phần tổng luận của Ngự chế lịch đại sử tổng luận chắc chăn đã được hoàn thành trước năm 1841, tức trước khi vua Thiệu Trị lên ngôi. Điều này rất phù hợp với câu nói trong phan dụ rang: “{‡#?##lE##EZH , BLS , Rãï0R.£4——/ chợt nhớ những ngày chưa lên ngôi, đọc sách kinh su, ghỉ chép tom lược đại khải được một hai diéu. Như đã trình bày nêu trên, nhà vua cho rằng sách sử học tập có quá nhiều, không có nội dung thống nhất nên đã yêu cau tách bài nguyên luận trong Ngự chế văn sơ tập ra thành bản riêng rồi yêu cầu các quan đại thần Nội các nghiên cứu, bổ sung lời chú bình. Đoạn tấu của các đại thần nhắc lại rằng: ROAR KR2ZPRRRS štˆRS9), x{t>zSXjM, SFE RE.
KHER ARRDRTH 3š 2 4) / (Ngài) lại cho là sử của đời trước, rat phién cho người đọc, khó có thể câu được cái diéu tóm lược trọng yếu, Các sách gan thời nay còn thiếu sót, người học do đó ma it được đọc thấy. Ngài khâm mệnh cho nho than. Cung kinh kiểm xét nhiễu lan, phân biệt rõ ràng chú thích. Kính tiến trình lên Hoàng dé ngự lãm”.
Vua Thiệu Trị cũng rất thận trọng, tỉ mỉ trong quá trình hoàn thiện công trình này, sách Đại Nam thực lục chép “./ai pham các bản thao về bộ Thực lục Tiên biên, có ngự but đính chỉnh, déu sai Nội các kính dâng lên dé đốt đi, cho được tỏ ra thận trọng. Lai sai Lục bộ, Nội các và sử than chú giải những bài: “Ngự chế lịch dai sử tong luận ”. Sau khi tiến trình lên nhà vua xem xét, các quan biên soạn đã chia sách thành ba phần, trở thành một tác phẩm độc lập và xin nhà vua cho tiến hành khắc in, đoạn tau của các quan đại than viết: BS ahi Rie , lễ =%, BISA , BRIE Ae [. J MBA ZRB/Ching than kính can hiệu đính biên soạn, chia thành ba quyển, lam sáng cho nơi chứa sách, lam rực rỡ cho chốn lam văn chương.Jrat nên” khắc van in dé công bố”.
!? Châu bản Thiệu Trị tập số 9, tờ số 59. Trung tâm Lưu trữ quốc gia L Hà Nội. '3Nguyên văn: Doãn nghỉ. Sái Ung đời Hán trong Quang Vũ Tế Dương cung bi viết: “lịch số tại dé, tiễn tộ doãn nghi” (Lich sô ở vua Quang Vũ, nôi ngôi rat hợp ý trời).
Ị4 Nguyên văn: Lê táo, chỉ việc san khắc in sách, dùng gỗ lê, gỗ táo, nên gọi bản in sách là Lê Táo 19 4. Sau khi in khắc xong, vua chuan sức cho ban phat ở toà Kinh dién, Quốc tử giám, những học đường, nơi tư gia. Phan tấu của các quan nói rang: BllSE#ãƒT, A Meas, SERA, RRBARM, RBBR, SARAl, KR / Riêng phụng mệnh ban hành, dé cho trong thi Can Đông” giảng hoc, bao quát Hồ Vil, thứ đến các đám Nho sinh nơi Nghệ phố”, những bậc cao nhân nơi đèn dom án tuyết", kính làm huấn báu, mãi mong đồ trị. Phan chỉ dụ đầu tác phâm là lời châu phê của vua Thiệu Trị, đây chính là văn bản hành chính mà triều đình phê chuẩn cho phép lưu hành tác phâm”.
Phan chi dụ my cũng được chép trong Dai Nam thực luc, nội dung như sau:. Bi B 22 i Ss ,WHSK, 2SARSR , S7SiÁSXIEIMAIE, NHAC ARSE SHRP ease AMR , ARR RAH 2, ABRSt, ARS , SMA. Mat H5 / Các quan trong Nội các tu sửa rồi đóng thành tập xin chỉ dụ, khắc in xong xuôi. Sách này (Tram) sai Nội các tuân chiếu, các Hoàng tử, Hoàng tôn, Hoàng thân trở lên dem đến nhà giảng, từ trường học cho tới các học đường các phú huyện trực Tỉnh, ban cho Ngự chế lịch đại sử tổng luận mỗi Bộ một cuốn, trong thì đến nhà Tưởng ngoài thì đến noi Tự, dé nhờ vào sách nay mà ngắm nghía nghiên cứu rèn giữa, dé ban ơn cho bề tôi của Tram, ngày càng cô gang tu tập, nên nói cho bộ Lễ được biết.
Kham Thử! Viết ngày xuân năm Thiệu Trị thứ bảy. Hiện trạng các văn bản tác phẩm Các văn bản tác phẩm Ngự chế lịch đại sử tổng luận gồm 2 nhóm: Nhóm1 là văn bản được đăng trong Ngự chế văn sơ tập ffJ 432 9) =.