Chương 1: Một số nét về địa bàn nghiên cứu Chương 2: Sạp Thái truyền thống Chương 3: Sạp Thái hiện nay: Biến đổi và bảo tồn 10 z Chƣơng 1 MỘT SỐ NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên Huyện Điện Biên là một huyện vùng núi biên giới nằm ở phía Tây Nam tỉnh Điện Biên. Huyện Điện Biên có diện tích tự nhiên là 163.926,03 ha, với 25 đơn vị hành chính xã, trong đó có 12 xã lòng chảo và 13 xã ngoài là vùng sâu, vùng xa. Trong 25 xã của huyện có 18 xã, 8 bản thuộc xã khu vực II được thụ hưởng chương trình 135, có 12 xã biên giới.
Phía Bắc giáp huyện Mường Ẳng, huyện Mường Chà; phía Nam giáp huyện Phôn Thoong tỉnh Luông Pra Bang nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía Đông giáp huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La và huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên; phía Tây giáp huyện Mường Mày tỉnh Phong Sa Ly nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Huyện Điện Biên có đường biên giới Việt Lào dài 154 km, có cửa khẩu quốc tế Tây Trang và cửa khẩu quốc gia Huổi Puốc. Tên cũ của huyện Điện Biên là Mường Thanh. Nhà Thái học Cầm Trọng cho rằng Mường Thanh là tên cũ của Mường Then, một tên mường gắn với các thần thoại, truyền thuyết về sự phát sinh ra dân tộc Thái, là đất tổ của nhiều ngành Thái ở Đông Nam Á.
Khi Lạng Chượng đưa bộ phận người Thái Đen từ Mường Lò vào Mường Thanh thì Mường Thanh lúc đó gọi là Song Thanh vì ở lòng chảo rộng lớn này có 2 Mường: Thanh Nưa (Thanh Trên) cắm từ bản Noong Hẹt đổ ngược về đầu sông Nậm Rốm, tại đây trung tâm Mường Thanh là của toàn châu mường. Thanh Tảư (Thanh Dưới) từ bản Noọng Hẹt đổ về cuối sông Nạm Rốm, tại đây có Viêng Xam Mứn (Tam Vạn Thành) cổ kính của người Lự xây dựng. Huyện Điện Biên là vùng có địa hình phức tạp vừa có núi non và vừa có cánh đồng rộng lớn. Những dãy núi cao với độ cao từ 500-1000 mét so với mặt nước biển.
Dãy núi Pú Xam Xao chạy dọc biên giới Việt Lào, với đỉnh 11 z núi cao nhất là đỉnh núi Pu Đen cao 1886m. Phía Bắc là dãy núi lớn đá vôi đó là dãy Tây Trang của đất Điện Biên qua Lào. Sang phía Đông là dãy núi cao 1200 m đến 1700m từ đó xòe ra thành ba dãy, dãy thứ nhất chạy theo hướng Tây Nam đến dòng sông Nậm Mức, dãy thứ hai chạy theo hướng Bắc Nam dọc theo phía Đông cánh đồng Mường Thanh tới Mường Phăng tạo thành một cao nguyên, dãy thứ ba ngắn nhất chạy theo hướng Đông Nam đến cánh đồng Tuần Giáo. Thung lũng lòng chảo Điện Biên gồm có hai con sông gồm sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa.
Sông Nậm Rốm phát nguyên từ dãy núi giữa Na Tấu và Mường Đặng qua Na Nhan hợp lưu với Nậm Phăng, qua lòng chảo hợp lưu với 28 nhánh suối khác, chạy xuyên qua tiểu vùng theo hướng Bắc Nam. Diện tích lưu vực 500 km2, độ dốc là 4%, các suối thuộc lưu vực sông Nậm Rốm có tất cả 28 nguồn suối trong đó có 7 nguồn suối có nước quanh năm và cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp. Sông Nậm Núa có hai nhánh Nậm Núa chảy từ Mường Nha về Nậm Ngan chảy từ Pu Nhi về hợp lưu ở Nậm Ngan (Na Sang) lấy tên là Nậm Núa, chảy theo hướng Đông Tây đến Pá Nậm (Sa Mứn) hợp lưu với Nậm Rốm chảy qua Nong Luông, Pa Thơm sang Lào hợp lưu với Nậm U. Giữa các dãy núi trên là cánh đồng Mường Thanh rộng hơn 150 km2 là cánh đồng lớn nhất tỉnh cả Tây Bắc.
Có câu: “nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” thể hiện rõ vị trí và vai trò của cánh đồng Mường Thanh. Mường Thanh là thuộc Điện Biên, Mường Lò là thuộc Yên Bái, Mường Than thuộc Lai Châu, Mường Tấc thuộc Sơn La. Khí hậu của huyện Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao. Mùa Đông tương đối lạnh và ít mưa.
Mùa hè nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến bất thường, phân hóa đa dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21-23 độ C, lượng mưa trung bình từ 1700-2500 mm, độ ẩm 83-85%. 12 z Đặc điểm tự nhiên của huyện Điện Biên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh tế, văn hóa tộc người. Chính những điều kiện trên đã hình thành nên nền văn hóa người Thái ở huyện Điện Biên phong phú và đa dạng.
Ngƣời Thái ở huyện Điện Biên Theo thống kê của Phòng Dân tộc huyện Điện Biên thì năm 2014 dân số của huyện là 113.651 người, gồm 8 dân tộc cùng chung sinh sống. Trong đó, dân tộc Thái có 57.512 người chiếm tỷ lệ 51,35% tổng dân số của huyện. Tiếp đó, dân tộc Kinh gồm có 31.203 người, chiếm 27,86%. Dân tộc Hmông là 11.289 người chiếm 10,8%.
Dân tộc Khơ Mú là 6.160 người chiếm 5,5%. Dân tộc Lào là 2.822 người chiếm 2,52%. Còn lại là các dân tộc khác. Như vậy người Thái là cư dân tập trung đông nhất của dân số toàn huyện.
Từ trước tới nay, người Thái ở huyện Điện Biên nói riêng và cả Tây Bắc nói chung đều nhận mình là “côn tay” hay “phủ tay” tức là người Thái (côn, phủ là người) tay (Thái) cũng như người Tày ở vùng Đông Bắc tự gọi mình là “cần tày”. Có hai ngành Thái là “tay đăm” (Thái Đen) và “tay khao” hay “tay đón” (Thái Trắng). Người Thái Đen cư trú chủ yếu ở huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ, huyện Tuần Giáo. Người Thái Trắng cư trú chủ yếu ở huyện Mường Lay, Mường Chà.
Về lịch sử của người Thái ở Tây Bắc và người Thái ở huyện Điện Biên là một vấn đề khá phức tạp. Qua các nguồn tài liệu, tác giả Hoàng Lương khẳng định: “Cư dân Phùng Nguyên - Đông Sơn và cư dân Tày Thái cổ có mối quan hệ nội sinh. Có thể người Tày Thái cổ xưa là một trong những thành viên quan trọng của khối cộng đồng cư dân Phùng Nguyên - Đông Sơn và họ tạo dựng và phát triển nền văn minh Đông Sơn ở Việt Nam” [20, tr. Tác giả Hà Văn Tấn nhấn mạnh: “Trong văn hóa Đông Sơn có những đặc điểm văn hóa tồn tại ở một số dân tộc hiện nay nói tiếng Môn-Khơ me hoặc tiếng Thái cho nên cư 13 z dân văn Lang (nói chính xác là cư dân Đông Sơn) chính là cư dân nông nghiệp lúa nước.
Trong lớp cư dân đó người Thái cổ lúc đó đang sinh sống xung quanh vịnh Hà Nội. Mường Thanh, Mường Then, Mường Theng hay Mănh Thiên là tên gọi xưa nhất của Điện Biên. Thời Hùng Vương, đất Mường Thanh thuộc bộ Tân Hưng. Thời Lý nằm trong địa hạt Châu Lâm Tây.
Đến Đời Trần, Mường Thanh thuộc châu Ninh Viễn, lộ Đà Giang. Đầu thời Lê, Mường Thanh thuộc châu Phục Lễ (Lai Châu) trấn Gia Hưng. Năm 1463 trấn Hưng Hóa được lập, Mường Thanh lúc đó thuộc phủ An Tây gồm 10 châu: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Tuy Phụ và Khiêm. Đời Lê Cảnh Hưng (1740-1768) 6 châu bị nhà Thanh chiếm, phủ An Tây chỉ còn 4 châu là Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai và Luân.
Khoảng thế kỷ X, trong quá trình khai khẩn ruộng nước tạo thành cánh đồng rộng lớn, con cháu của Khum Bó Rôm đã xây dựng Mường Thanh thành một mường lớn. Đến thời Lạn Chượng, Mường Thanh phát triển cực thịnh. Sau này Mường Thanh được ghi chép trong sách Hưng Hóa xử phong thổ lục của Hoàng Bình Chính với cái tên Động Mãnh Thiên (một phiên âm của chữ hán) lúc đó thủ lĩnh phong trào nông dân nổi tiếng là Hoàng Công Chất đã lấy trung tâm Mường Thanh để xây đắp thành lũy gọi là thành Phủ Chiềng Lè (trình lệ) thời đó Mường Thanh trở thành một căn cứ trung tâm nông dân nổi dậy chống triều đình Lê Trịnh mục nát và là trung tâm của toàn khu vực. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) tên Điện Biên Phủ được đặt cho vùng lòng chảo Mường Thanh, Điện có nghĩa là vững chãi, Biên có nghĩa là vùng biên ải; đổi phủ An Tây thành phủ Điện Biên.
Tháng 5 năm 1841 theo đề nghị của Nguyễn Khắc Thuần xin lập phủ Điện Biên gồm châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu được vua Thiệu Trị phê chuẩn đóng phủ lị ở Chiềng Lề. Châu Ninh Biên nay thuộc Bản Phủ, xã Noong Hét. Từ đó Mường Thanh mang tên Điện Biên Phủ [44,tr 232]. 14 z Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) đặt làm 2 tổng: tổng Phong Thanh gồm có 7 xã, tổng Tiên Phong có 6 xã.
Đến năm Tự Đức nguyên niên (1848) đặt riêng thành phủ Điện Biên và có 9 xã là Bà Man, Bình Đôm, Noọng Hẹt, Bá Đạo, Mãnh Gia, Trần Cư, Đồng Lâm, Chiêu Lai, Bình Thản và 4 xã cũ thành 13 xã. Năm 1883 quân đội Pháp bắt đầu đánh chiếm Hưng Hóa, mãi đến ngày 23 tháng 1 năm 1988 quân Pháp mới chiếm được Điện Biên. Năm 1908 Pháp lập ra các tỉnh Sơn La, Lai Châu. Thời Pháp, Điện Biên mấy lần thuộc các tỉnh này.
Sau cách mạng Tháng 8 thành công, thực dân Pháp quay lại chiếm Điện Biên và sau khi chiếm xong Tây Bắc thực dân Pháp lập ra “xứ Thái tự trị” (1948) gồm 16 châu chia làm 3 tỉnh và Điện Biên thành một châu. Ngày 7/5/1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ từ đây Điện Biên có tên trên bản đồ thế giới. Khi nhắc tới Điện Biên là nhắc tới chiến thắng này. Năm 1953 khu Tây Bắc được thành lập theo sắc lệnh số 134-SL ngày 28/01/1953 để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu.
Tháng 4 năm 1955 Điện Biên nằm trong khu tự trị Thái - Mèo. Tháng 10 năm 1962 đổi thành khu tự trị Tây Bắc gồm ba tỉnh Lai Châu, Nghĩa Lộ và Sơn La. Năm 1975 khu tự trị Tây Bắc giải thể, tỉnh Lai Châu được thành lập bao gồm cả Điện Biên. Năm 2004 Điện Biên là một tỉnh riêng gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện gồm huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Nhé, Mường Ẳng, Mường Chà, huyện Tủa Chùa và huyện Tuần Giáo.
Trải qua lịch sử nhiều thế kỷ, dân tộc Thái vẫn giữ gìn được văn hóa của mình với hai yếu tố đó là bản lĩnh và bản sắc: “Một dân tộc có bản lĩnh vững vàng sẽ phá huy được bản sắc của mình. Một dân tộc luôn luôn phát huy được bản sắc của mình chứng tỏ dân tộc đó có bản lĩnh” [38, tr. Một cộng đồng tộc người có nền văn hóa lâu đời.