Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG, NỘI DUNG, YÊU CẦU CỦA VIỆC GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG CHO SINH VIÊN VIỆT NAM 1. Lý tưởng cách mạng và tầm quan trọng của việc giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên 1. Lý tưởng và lý tưởng cách mạng * Khái niệm lý tưởng: Khái niệm lý tưởng được các nhà khoa học xác định dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ triết học, lý tưởng là sự phản ứng đặc thù hiện thực khách quan vào ý thức con người hoặc một nhóm xã hội nào đó dưới dạng một hình mẫu, một mô hình hoàn thiện.
Nội dung của lý tưởng, vì vậy được quy định bởi các quan hệ sản xuất thống trị cùng những đặc điểm tinh thần và tâm lý của nhân cách. Lý tưởng không chỉ là động lực kích thích hoạt động chính trị mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương thức, phương tiện hoạt động chính trị. Ví như việc Chủ nghĩa Mác - Lênin đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thành học thuyết khoa học, vạch ra những con đường hiện thực, thực hiện lý tưởng chính trị của giai cấp công nhân và những người lao động đó là giải phóng triệt để con người. Lý tưởng khác với chuẩn mực và giá trị: Nếu lý tưởng là hình ảnh cao đẹp nhất để vươn tới, thì chuẩn mực là khuôn mẫu, là hành vi, còn giá trị là định hướng hành vi.
Dưới góc độ xã hội học, các nhà xã hội học cho rằng, lý tưởng nói chung mang tính trừu tượng, còn chuẩn mực thường cụ thể hơn, giá trị vừa trừu tượng vừa cụ thể. Lý tưởng xã hội một khi đã đi sâu vào đông đảo quần chúng thì sẽ trở thành sức mạnh tinh thần to lớn, thậm chí có thể trở thành một sức mạnh vật chất đáng kể. 8 z Đối với cá nhân mỗi người trưởng thành đều có lý tưởng của mình. Đó có thể là một hình ảnh cụ thể, thực tế sinh động hoặc là hình ảnh trừu tượng, trong đó kết hợp nhiều nét riêng rẽ của nhiều người mà cá nhân đó ưa thích, muốn noi theo, muốn đạt tới.
Dưới góc độ tâm lý học, “lý tưởng là biểu tượng, là (hình ảnh) của một người về một điều gì đó mà nó cảm thấy rất cao cả, hoàn thiện và nó rất muốn đạt tới. Lý tưởng là hình ảnh dẫn dắt mỗi người và là tiêu chuẩn cho các hành vi của nó” [5,Tr. Lý tưởng cá nhân (lý tưởng riêng) bao giờ cũng chịu ảnh hưởng của xã hội, của lý tưởng nhóm (lý tưởng chung) mà trong đó nó là một thành viên tích cực. Lý tưởng cá nhân hình thành và phát triển tùy theo kết quả lĩnh hội các giá trị văn hóa, xã hội, chính trị của người đó.
Lý tưởng khác với thần tượng, thần tượng chỉ là những biểu tượng dẫn dắt con người, tác động đến cá nhân trong thời gian ngắn. Thần tượng gắn với “mốt” với vẻ bề ngoài. Nó là trạng thái tâm lý thức thời của con người chứ không phải là một thuộc tính tâm lý cá nhân như lý tưởng mà trong đó có chứa đựng sự suy nghĩ sâu xa cùng với niềm tin, ý chí trên cơ sở tri thức chính trị. Cuốn từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, năm 1996) cho rằng: "Lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà người ta phấn đấu để đạt tới" [65,Tr.
Từ một số góc độ tiếp cận trên, có thể khẳng định: Lý tưởng là một hiện tượng của ý thức xã hội, phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng một mô hình, một hình mẫu hoàn thiện, vừa là mục tiêu cao cả mà con người cần hướng tới, vừa là động lực mạnh mẽ thôi thúc con người hành động. * Lý tưởng cách mạng: Khái niệm lý tưởng cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong hệ thống những tư tưởng của Người về chăm lo sự nghiệp “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Đạo đức cách mạng, chí khí cách mạng, 9 z đường cách mạng, Đảng cách mạng, công tác cách mạng, cán bộ cách mạng, tư cách người cách mạng là những phạm trù được Hồ Chủ tịch thường xuyên dùng trong các bài nói, bài viết của mình để truyền bá lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cộng sản vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trước đây, cũng như trong quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội sau này. Lý tưởng cách mạng là một nội dung cụ thể của lý tưởng nói chung chỉ có ở những nhân cách đã và đang trưởng thành, có vai trò chi phối mạnh mẽ các nội dung lý tưởng khác.
Tuy nhiên, lý tưởng cách mạng không tự nhiên hình thành mà nó được hình thành từ những kết quả của những quá trình giáo dục có tính định hướng, thông qua những môi trường cụ thể. Lý tưởng cách mạng mang tính tự giác, thể hiện rõ quá trình tự giáo dục của từng cá nhân riêng lẻ. Lý tưởng cách mạng của thanh niên - sinh viên Việt Nam không thể tách khỏi hệ lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử phát triển của đất nước. Mục tiêu lý tưởng của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam hiện nay là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước” hay có thể nói “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” - đây chính là nội dung cốt lõi nhất.
Theo quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển, nội dung cụ thể của lý tưởng cách mạng trong từng giai đoạn cách mạng có thể khác nhau về mức độ, tầm quan trọng, song cái “bất biến” trong mọi thời kỳ của lý tưởng cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thế hệ trẻ Việt Nam thấm nhuần chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” và hướng tới một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” nên đã có hàng triệu triệu thanh niên, sinh viên Việt Nam không tiếc xương máu, tuổi trẻ góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền hòa bình cho dân tộc và ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước thanh 10 z niên, sinh viên Việt Nam lại tiếp tục phát huy lý tưởng cách mạng, truyền thống dân tộc để chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên sánh vai cùng thế giới vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của toàn dân và vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ Việt Nam. Dưới góc độ của lý tưởng cá nhân, có thể hiểu đó chính là mô hình nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa như quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa. Xét về mặt cấu trúc, ta có thể phân chia lý tưởng cách mạng thành lý tưởng xã hội và lý tưởng cá nhân; hoặc có thể phân chia lý tưởng thành bốn loại là: Lý tưởng chính trị xã hội, lý tưởng đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp và lý tưởng thẩm mỹ.
Trong đó lý tưởng chính trị là quan trọng nhất. Về chức năng của lý tưởng cách mạng, chúng ta có thể xem xét dưới các góc độ sau: Thứ nhất, với tư cách là hình chiếu tinh thần vào tương lai thì lý tưởng sẽ quyết định tới nội dung của những mục tiêu mà mỗi người đặt ra cho mình trong cuộc sống và công việc. Thứ hai, với tư cách là quan niệm về sự hoàn thiện sẽ được hình thành trong mỗi cá nhân, thì lý tưởng lại được xem như là sự tiêu biểu, là thước đo để mỗi cá nhân soi vào và tự đánh giá bản thân mình. Thứ ba, lý tưởng cách mạng do bản thân nó chứa đựng tính khách quan, khoa học nên nó không chỉ là một hiện tượng của ý thức thuần túy, mà trở thành một động lực thực sự của hoạt động tinh thần và hoạt động thực tiễn cụ thể của con người hướng tới việc hiện thực hóa lý tưởng đó.
Từ phân tích trên có thể khẳng định: Lý tưởng cách mạng là lý tưởng cao đẹp mà sinh viên theo đuổi, do Đảng vạch ra con đường đi tới tương lai của đất nước và dân tộc đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. Sinh viên và đặc điểm của sinh viên * Sinh viên Sinh viên là người đang học tại các trường đại học, cao đẳng; muốn trở thành sinh viên phải có các điều kiện: đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổ túc trung học hoặc trung học chuyên nghiệp, có đủ sức khỏe để học tập và lao động không quá 32 tuổi tính đến ngày tuyển vào (nếu là công nhân, bộ đội được phép đến 35 tuổi); là công dân tốt của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đạt điểm tuyển chọn qua các kỳ thi tuyển sinh quốc gia [22,Tr 27]. Theo tâm lý học, tuổi thanh niên được xác định từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1: từ 15 tuổi đến 17 tuổi; giai đoạn 2: từ 18 tuổi đến 25 tuổi. Với cách phân chia này cho thấy, sinh viên nằm ở độ tuổi của giai đoạn 2.
Vì ở lứa tuổi của thanh niên nên trước hết họ là một bộ phận của thanh niên và họ có các đặt điểm chung của thanh niên: họ là một nhóm xã hội có nhân khẩu đặc thù được phân chia theo độ tuổi, được gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội. Do ra đời và lớn lên ở những giai đoạn lịch sử kinh tế - xã hội khác nhau nên họ có mối quan hệ kế thừa và phát triển, song quá trình nhận thức tư tưởng, hình thành nhân cách, sự phát triển về tâm lý, nhu cầu, sở thích, phong cách, lối sống… của họ cũng có nhiều điểm khác nhau so với các thế hệ lớn tuổi nên dễ dẫn tới nảy sinh mâu thuẫn giữa các thế hệ. Họ có thể trở thành lực lượng xung kích của giai cấp này hay giai cấp khác và họ có thể phản ánh quan điểm, tư tưởng và lợi ích của giai cấp đó. Các lực lượng khác nhau trong xã hội đều luôn tìm cách lôi kéo thanh niên, mong muốn sự ủng hộ của thanh niên.
Họ là nhóm xã hội dễ dàng tiếp thu hệ tư tưởng này hoặc hệ tư tưởng khác kể cả tư tưởng tích cực hoặc tiêu cực.