Luận văn: Phép biện chứng Hêghen và ý nghĩa với triết học Mác

Phân tích phép biện chứng trong triết học Hêghen và làm rõ ý nghĩa tiền đề lý luận then chốt đối với sự ra đời của triết học Mác.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phép biện chứng Hêghen

Phép biện chứng trong triết học Hêghen là nền tảng triết học quan trọng, phản ánh quan niệm về sự vận động, phát triển của thế giới thông qua các mối quan hệ biện chứng. Hêghen xây dựng hệ thống triết học dựa trên nguyên lý về sự thống nhất của các mặt đối lập, phủ định và phủ định của phủ định. Những khái niệm này không chỉ giải thích quá trình phát triển của tư duy mà còn phản ánh sự vận động khách quan của hiện thực. Phép biện chứng Hêghen được xem là đỉnh cao của triết học duy tâm cổ điển Đức, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền triết học hiện đại. Nó cung cấp cơ sở lý luận để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa chủ quan và khách quan.

1.1. Nguồn gốc và điều kiện ra đời

Phép biện chứng Hêghen xuất hiện trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của châu Âu thế kỷ XVIII-XIX, đặc biệt là cuộc Cách mạng Pháp năm 1789. Giai cấp tư sản Đức lúc bấy giờ đang đấu tranh chống lại chế độ phong kiến, nhưng thiếu sức mạnh chính trị để tiến hành cách mạng. Hêghen, với tư cách là nhà triết học đại diện cho tầng lớp tư sản Đức, đã kế thừa và phát triển những tư tưởng biện chứng từ triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Đức đương thời. Những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội đã tạo tiền đề cho sự ra đời của phép biện chứng Hêghen, giúp ông xây dựng một hệ thống triết học thống nhất và toàn diện.

1.2. Đặc điểm cơ bản trong hệ thống triết học

Phép biện chứng Hêghen được đặc trưng bởi ba nguyên lý cơ bản: sự thống nhất của các mặt đối lập, sự phủ định và sự phủ định của phủ định. Những nguyên lý này không chỉ phản ánh sự vận động của tư duy mà còn thể hiện sự phát triển của hiện thực khách quan. Hêghen cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, và sự phát triển diễn ra thông qua các giai đoạn phủ định và khẳng định. Hệ thống triết học của ông bao gồm ba phần chính: triết học tự nhiên, triết học tinh thần và triết học logic, tạo nên một cấu trúc thống nhất và toàn diện.

II. Phân tích các quy luật biện chứng trong triết học Hêghen

Phép biện chứng Hêghen bao gồm ba quy luật cơ bản: quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, và quy luật phủ định của phủ định. Những quy luật này không chỉ giải thích sự vận động của tư duy mà còn phản ánh sự phát triển của hiện thực khách quan. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập cho thấy mọi sự vật đều tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó các mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh, thúc đẩy sự phát triển. Quy luật chuyển hóa từ lượng thành chất giải thích quá trình phát triển diễn ra thông qua những thay đổi dần dần về lượng, sau đó đột biến thành những thay đổi về chất. Quy luật phủ định của phủ định cho thấy sự phát triển diễn ra thông qua các giai đoạn phủ định và khẳng định, tạo nên sự thống nhất và toàn diện.

2.1. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Quy luật này khẳng định rằng mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó các mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh. Sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện để chúng tồn tại, trong khi sự đấu tranh giữa chúng là động lực thúc đẩy sự phát triển. Hêghen cho rằng sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không chỉ diễn ra trong tư duy mà còn trong hiện thực khách quan. Ví dụ, trong xã hội, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản vừa thống nhất vừa đấu tranh, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

2.2. Quy luật phủ định của phủ định

Quy luật phủ định của phủ định giải thích quá trình phát triển diễn ra thông qua các giai đoạn phủ định và khẳng định. Mỗi lần phủ định không chỉ là sự hủy diệt mà còn là sự kế thừa và phát triển. Hêghen cho rằng sự phủ định của phủ định không phải là sự trở lại điểm xuất phát mà là sự thống nhất của những mặt đối lập, tạo nên sự phát triển toàn diện. Ví dụ, trong tư duy, sự phủ định của phủ định thể hiện qua quá trình tư duy từ khái niệm đơn giản đến khái niệm phức tạp, từ trừu tượng đến cụ thể.

III. Ý nghĩa của phép biện chứng Hêghen đối với triết học Mác

Phép biện chứng Hêghen đóng vai trò quan trọng trong sự ra đời của triết học Mác. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là C.Mác và Ph.Ăngghen, đã kế thừa và phát triển những tư tưởng biện chứng của Hêghen, biến chúng thành nền tảng lý luận cho chủ nghĩa duy vật biện chứng. Phép biện chứng Hêghen cung cấp cơ sở lý luận để Mác và Ăngghen xây dựng học thuyết về sự phát triển của xã hội, về đấu tranh giai cấp và về cách mạng vô sản. Những nguyên lý biện chứng của Hêghen đã giúp Mác và Ăngghen giải thích sự vận động của xã hội tư bản, dự đoán sự sụp đổ tất yếu của nó và đề ra chiến lược cách mạng cho giai cấp vô sản.

3.1. Sự kế thừa và phát triển trong triết học Mác

C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những nguyên lý biện chứng của Hêghen, nhưng đồng thời cũng phê phán và sửa chữa những hạn chế của nó. Họ đã chuyển phép biện chứng từ nền tảng duy tâm sang nền tảng duy vật, từ tư duy thuần túy sang hiện thực khách quan. Phép biện chứng duy vật của Mác và Ăngghen giải thích sự phát triển của xã hội thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua sự thay đổi của phương thức sản xuất. Những tư tưởng này đã trở thành nền tảng lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

3.2. Ảnh hưởng đến học thuyết về cách mạng xã hội

Phép biện chứng Hêghen đã cung cấp cơ sở lý luận cho Mác và Ăngghen xây dựng học thuyết về cách mạng xã hội. Họ cho rằng sự phát triển của xã hội diễn ra thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua sự thay đổi của phương thức sản xuất. Phép biện chứng Hêghen đã giúp Mác và Ăngghen giải thích sự vận động của xã hội tư bản, dự đoán sự sụp đổ tất yếu của nó và đề ra chiến lược cách mạng cho giai cấp vô sản. Những tư tưởng này đã trở thành nền tảng lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản khoa học.

IV. Kết luận và ứng dụng của phép biện chứng Hêghen

Phép biện chứng Hêghen là một trong những đóng góp quan trọng nhất của triết học cổ điển Đức, có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của triết học hiện đại. Những nguyên lý biện chứng của ông không chỉ giải thích sự vận động của tư duy mà còn phản ánh sự phát triển của hiện thực khách quan. Sự kế thừa và phát triển những tư tưởng của Hêghen trong triết học Mác đã tạo nên nền tảng lý luận vững chắc cho chủ nghĩa duy vật biện chứng. Ngày nay, phép biện chứng Hêghen vẫn có giá trị trong việc nghiên cứu các vấn đề xã hội, chính trị và kinh tế, giúp con người hiểu rõ hơn về bản chất của sự vận động và phát triển.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn hiện nay

Phép biện chứng Hêghen vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu các vấn đề xã hội, chính trị và kinh tế. Những nguyên lý biện chứng của ông giúp con người hiểu rõ hơn về bản chất của sự vận động và phát triển, từ đó đề ra những chiến lược phù hợp để giải quyết các vấn đề của xã hội. Ví dụ, trong lĩnh vực kinh tế, phép biện chứng giúp giải thích sự phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi về lượng và chất, thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập.

4.2. Những hạn chế và chỉ trích

Mặc dù có những đóng góp quan trọng, phép biện chứng Hêghen cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Hêghen xem sự phát triển của tư duy là nền tảng của sự phát triển hiện thực, điều này dẫn đến quan niệm duy tâm về sự vận động của thế giới. Ngoài ra, những quan niệm của Hêghen về sự thống nhất của hợp lý và hiện thực cũng bị chỉ trích là bảo thủ, khi ông cho rằng mọi hiện thực đều là hợp lý. Những hạn chế này đã được Mác và Ăngghen phê phán và sửa chữa trong triết học Mác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Phép biện chứng trong triết học hêghen và ý nghĩa của nó đối với sự ra đời triết học mác

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 2 chƣơng, 4 tiết 9 hƣơng 1 Đ Ề K N A ĐỜ NỘ D NG Ủ Ế ỦA P ÉP N ỨNG G EN 1. Điều kiện ra đời phép biện chứng của êghen 1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nước Đức thế kỷ XVIII ũng nhƣ các nhà triết học đi trƣớc, tƣ tƣởng triết học của Hêghen trong đó có phép biện chứng chịu sự quy định từ điều kiện kinh tế - xã hội - khoa học và nhận thức ở nƣớc ức đƣơng thời. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX khi chủ nghĩa tƣ bản đã đƣợc thiết lập và phát triển mạnh mẽ hầu hết ở các nƣớc Tây Âu, thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra những bƣớc nhảy đột biến trong sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, khẳng định tính ƣu việt hơn hẳn của chủ nghĩa tƣ bản so với tất cả các chế độ xã hội trƣớc đó.

ác thành quả về văn hóa, khoa học nở rộ ở các nƣớc Ý, Pháp, nh… đã minh chứng cho năng lực vô tận của nhận thức và cải tạo thế giới của con ngƣời. Trong khi đó thì nƣớc ức vẫn ỳ ạch trong chế độ phong kiến, nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu. Lãnh thổ bị chia cắt, manh mún. Hầu hết ruộng đất nằm trong tay địa chủ phong kiến, những tàn dƣ của chế độ nông nô, chế độ phƣờng hội trong thành thị, đã làm cho năng suất lao động thấp, đời sống của đại đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn và vô cùng cực khổ.

Triều đình vua Phổ Phririch Vinhem (1770 - 1840) không ngừng tăng cƣờng quyền lực và duy trì chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc, muốn đƣa nhân dân mình quay trở về thời kỳ trung cổ, cản trở nƣớc ức phát triển theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa. 10 Mặc dù vậy, theo quy luật tất yếu, mầm mống của kinh tế tƣ bản chủ nghĩa đã xuất hiện và phát triển trong mọi ngành kinh tế, các công trƣờng thủ công hình thành từ thế kỷ XVI. ù chậm chạp so với các nƣớc Tây Âu khác, nhƣng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX nƣớc ức đã có một số chuyển biến nhất định theo hƣớng kinh tế tƣ bản, rõ nhất là sự áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải, xuất hiện tàu thủy chạy bằng hơi nƣớc và con đƣờng xe lửa đầu tiên đƣợc xây dựng năm 1835, một bộ phận ruộng đất nông thôn đƣợc chuyển sang kinh doanh theo kiểu tƣ bản chủ nghĩa, công nghiệp khai mỏ, công nghiệp dệt, công nghiệp hóa chất tƣơng đối phát triển, các trung tâm công nghiệp xuất hiện ở vùng sông Ranh, Vétxphalen, Xắcxôni… Tuy nhiên do vị trí địa lý không thuận lợi, các cuộc chiến tranh liên miên xảy ra, sự chia cắt lãnh thổ, thiên tai, khủng hoảng kinh tế liên tục diễn ra khiến nƣớc ức rơi vào tình trạng kiệt quệ, hoang tàn.Ăngghen viết: “…tình hình nƣớc ức cuối thế kỷ trƣớc. ấy là cả một đống những cái chán chƣờng, mục nát và tan rã.

Không ai cảm thấy dễ chịu. Thủ công nghiệp, thƣơng nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nƣớc đều rơi vào cảnh điêu tàn cùng cực. Nông dân, thợ thủ công và chủ xí nghiệp chịu hai lần khổ ải: chính quyền ăn bám và trạng thái tiêu điều. Bọn quý tộc và vƣơng hầu cảm thấy rằng mặc dầu thu nhập của chúng vẫn không thể bù đắp đƣợc khoản chi tiêu ngày một phình lên của chúng.

Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn đã bao trùm cả nƣớc. Không có giáo dục, không có phƣơng tiện ảnh hƣởng đến ý thức quần chúng, không tự do báo chí, không có dƣ luận xã hội, thậm chí không có buôn bán tƣơng đối lớn với các nƣớc khác - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tƣ tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xun xoe nịnh hót thảm hại, đã thâm nhập toàn dân. Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp 11 sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [ .Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 2, Nxb. hính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.

Giai cấp tƣ sản ức ra đời và phát triển cùng sự phát triển của công, thƣơng nghiệp, mục tiêu của họ là chống lại chế độ quân chủ phong kiến và thống nhất đất nƣớc, tạo nên thị trƣờng dân tộc ức. Song do phân bố rải rác ở các lãnh địa phong kiến tách biệt nhau, họ đã không thống nhất đƣợc giai cấp mình thành một giai cấp có sức mạnh về kinh tế và tổ chức. Tuy thế, thực trạng của đất nƣớc và sự ảnh hƣởng của một số nƣớc xung quanh đã làm thức tỉnh một bộ phận cấp tiến của giai cấp tƣ sản và lực lƣợng tiến bộ ức. ác nhà văn nhà thơ, nhà tƣ tƣởng, nhà triết học đã hấp thụ đƣợc những tinh hoa quý báu của nền văn hóa ức truyền thống và tiếp nhận đƣợc tinh thần nhân văn tiến bộ của phong trào Khai sáng Pháp, của ách mạng Tƣ sản Pháp nên đã công khai phản bác, chống lại sự trì trệ, bảo thủ của xã hội phong kiến, đồng thời phản ánh nguyện vọng của các giai tầng trong xã hội, đòi hỏi phải phát triển đất nƣớc theo mô hình các quốc gia lân cận.

Hêghen cũng quan sát rõ các sự kiện ở Pháp thời đó: những cải cách của Napôlêông ở vùng sông Ranh đã cho Hêghen nhận thấy rằng cách mạng đã chuyển thành mặt đối lập với nó là phản cách mạng nhƣ thế nào, chế độ quân chủ mà hy vọng sẽ bảo vệ các thành quả của cách mạng đƣợc phục hồi sau một cuộc chính biến mới ở Pháp ra sao. Về tƣ tƣởng, ở nƣớc ức, hệ tƣ tƣởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý luận. Thần học là khoa học cơ bản trong các trƣờng đại học tổng hợp. Triết học và các môn khoa học xã hội khác nhiều khi chỉ là sự biện hộ và bảo vệ cho thần học.

Trƣớc một thực trạng xã hội rối ren 12 phức tạp và mâu thuẫn chồng chất nhƣ vậy, trong tâm trạng của tầng lớp trí thức ức đƣơng thời đã xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực - đó là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tƣ tƣởng cải lƣơng, thỏa hiệp, xuôi chiều, phủ nhận việc cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại hợp lý của xã hội đƣơng thời. Hêghen xuất thân từ gia đình có truyền thống tôn giáo, tiếp thu nền giáo dục kinh viện, đậm tính chất tôn giáo ở Tây Âu thời phong kiến. Những tƣ tƣởng của tôn giáo đã góp phần định hình nên những nền tảng cơ bản của triết học Hêghen: đó là lập trƣờng duy tâm, là quan niệm xem tƣ duy của con ngƣời đứng ở vị trí trung tâm của thế giới. Hơn nữa, trong quá trình theo học trƣờng dòng và ảnh hƣởng từ những ngƣời bạn nhƣ Schelling, triết học Hêghen cũng kế thừa sự huyền bí của các quan niệm tôn giáo.

iều này, trong bối cảnh hạn chế về hiểu biết khoa học - kỹ thuật, nền kinh tế kém phát triển, chính trị lạc hậu của nƣớc ức đƣơng thời đã góp phần tạo nên nét đặc trƣng riêng của triết học Hêghen. Giống nhƣ tƣ tƣởng của nhiều nhà triết học khác, hệ thống triết học của Hêghen chịu ảnh hƣởng và kế thừa các tƣ tƣởng triết học trong quá khứ. ác nhà triết học biện chứng của Hy Lạp cổ đại nhƣ Pácmênít, ênông, naxagorơ, Hêraclit, Platông,…; các tƣ tƣởng biện chứng thời cận đại đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của Hêghen. ác nhà biện chứng cổ Hy Lạp đã thấy rằng các sự vật xung quanh ta nằm trong một mớ chằng chịt vô tận những sợi dây liên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau, trong đó không có gì là y nguyên nhƣ cũ, đứng yên chỗ cũ, mà tất cả đều vận động, biến hóa, sinh thành và tiêu vong.

Nhƣng do chƣa đạt đến trình độ đi sâu phân tích giới tự nhiên cho nên các nhà biện chứng cổ Hy Lạp chú ý đến sự vận động, đến sự quá độ từ cái này sang cái 13 khác, đến những mối liên hệ nhiều hơn là chú ý đến cái đang vận động, đang quá độ và đang liên hệ với nhau. ách nhận xét thế giới nhƣ vậy, theo Ăngghen là một cách nhận xét còn nguyên thủy, ngây thơ, nhƣng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chƣa phải là kết quả của những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Tƣ tƣởng biện chứng cổ đại nhƣ một cơ sở, nền móng cho Hêghen tiếp tục hình thành tƣ tƣởng biện chứng, ông đã nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những thành tựu, bỏ đi những hạn chế trong tƣ tƣởng của các nhà triết học tiền bối, ông đã gom góp từng tƣ tƣởng biện chứng quý giá, chắt lọc chúng để kết tinh lại trong hệ thống lý luận biện chứng của mình. Nghiên cứu cách quan niệm của Hêraclit về sự vận động, về mặt đối lập, về mâu thuẫn, Hêghen thừa nhận rằng không có một luận điểm nào của Hêraclit mà ông lại không tiếp thu trong triết học của ông.

Triết gia Hy Lạp cổ đại đƣợc Hêghen rất tâm đắc là Pácmênít, luận điểm của Pácmênít: “Tƣ duy là cái mà tƣ duy suy tƣ về nó chính là Một” đƣợc Hêghen đánh giá là “ ản nguyên của triết học theo đúng nghĩa của từ này”, bởi Pácmênít đã gợi mở ý tƣởng đồng nhất giữa tƣ duy và tồn tại, khởi nguyên của thế giới là tƣ tƣởng. ùng với đề cao và kế thừa Hêraclít, Pácmênít, Hêghen tiếp nhận trong triết học biện chứng của mình nhiều di sản triết học Hy Lạp khác nhƣ ênông, êmôcrít, Empêđốccơlơ. Chẳng hạn từ tƣ tƣởng của Empêđốccơlơ trong quan niệm về nhận thức, trên lập trƣờng duy tâm khách quan của mình, Hêghen cho rằng tƣ duy chỉ có thể nhận thức đƣợc những gì có bản chất đồng nhất với nó, vì vậy những quan niệm cho rằng vật chất tồn tại độc lập, không liên hệ với tƣ duy, đó chỉ là những quan niệm vô nghĩa, không có nội dung tƣ tƣởng, chẳng khác gì những ngƣời ra sức đọc một điều gì đó trên tấm bảng đen nào đó không có lấy một 14 chữ, tƣ duy trở thành tính quy định và điều kiện để tiếp cận, khám phá đối tƣợng. naxagorơ với quan điểm Nus thống trị toàn thế giới đƣợc Hêghen thừa nhận là “một chân trời hoàn toàn mới mẻ đã đƣợc mở ra”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ