Luận văn: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng & vai trò với cán bộ DTTS Quảng Nam

Nghiên cứu về giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò thiết yếu của nó trong hoạt động thực tiễn của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã người dân tộc

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ DTTS Quảng Nam

Giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ dân tộc thiểu số là nhiệm vụ chiến lược của tỉnh Quảng Nam. Thế giới quan duy vật biện chứng là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cán bộ nhận thức đúng đắn quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội. Quảng Nam là tỉnh có 31 dân tộc thiểu số sinh sống, tập trung chủ yếu tại các huyện miền núi như Tây Giang, Nam Trà My, Phước Sơn, Đông Giang. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ này. Tuy nhiên, trước sự biến đổi phức tạp của tình hình kinh tế chính trị thế giới, chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch thường xuyên chống phá trên lĩnh vực tư tưởng. Do đó, việc giáo dục thế giới quan duy vật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng.

1.1. Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp xã người dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số được hiểu là những dân tộc có số dân chiếm tỷ lệ thấp trong tương quan dân số quốc gia. Tại Việt Nam, 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số. Cán bộ chủ chốt cấp xã người dân tộc thiểu số bao gồm các vị trí như Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Công an xã, Trưởng ban Mặt trận. Ngoài ra còn có đội ngũ không chuyên trách ở thôn như Bí thư Chi bộ thôn, Công an viên, người hoạt động đoàn thể. Số lượng người không chuyên trách tại cấp xã loại 1 tối đa không quá 22 người, cấp xã loại 2 không quá 20 người, cấp xã loại 3 không quá 19 người.

1.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ DTTS tại Quảng Nam

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại Quảng Nam có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tỉnh đã thực hiện nhiều chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về các xã miền núi, bố trí 53 cán bộ chuyên trách và 24 công chức chuyên môn. Dự án tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú tăng cường về làm phó chủ tịch UBND xã thuộc 62 huyện nghèo cũng đạt kết quả tích cực. Quảng Nam có 3 huyện tham gia tuyển chọn được 30 trí thức trẻ về làm phó chủ tịch UBND 30 xã. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn những hạn chế về trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo.

II. Phân tích vấn đề trong giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ DTTS

Công tác giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ dân tộc thiểu số Quảng Nam đối mặt nhiều thách thức. Thứ nhất, ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường đang hình thành lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ. Sự may rủi trong cơ chế thị trường làm xuất hiện tư tưởng cầu may, dễ dẫn con người rơi vào thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Thứ hai, chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên chống phá trên lĩnh vực tư tưởng. Mục tiêu của chúng là làm cho hệ tư tưởng tư sản chiếm vị trí thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ và nhân dân. Thứ ba, điều kiện địa hình miền núi hiểm trở, trình độ dân trí không đồng đều gây khó khăn cho việc tổ chức các lớp bồi dưỡng. Ngoài ra, một số cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc xây dựng thế giới quan khoa học, dẫn đến thiếu chủ động trong học tập và rèn luyện.

2.1. Ảnh hưởng của cơ chế thị trường và tư tưởng duy tâm

Cơ chế thị trường mang đến nhiều cơ hội phát triển kinh tế nhưng cũng tạo ra những mặt trái tiêu cực. Lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền xuất hiện trong một bộ phận cán bộ dân tộc thiểu số. Tư tưởng cầu may, mê tín dị đoan len lỏi vào đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số. Một số cán bộ thiếu lập trường tư tưởng vững vàng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác lãnh đạo, chỉ đạo tại cơ sở. Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng trở thành nhiệm vụ cấp bách để cán bộ nhận thức đúng đắn quy luật phát triển xã hội.

2.2. Hạn chế về trình độ và năng lực cán bộ cơ sở

Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại Quảng Nam vẫn còn những mặt hạn chế chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhiều cán bộ cấp xã còn thấp, đặc biệt tại các huyện miền núi như Bắc Trà My, Nam Trà My. Năng lực tham mưu, giúp việc cho cấp ủy và chính quyền cơ sở còn yếu. Một số cán bộ chưa hoàn thành chương trình bổ túc văn hóa từ lớp 10 đến lớp 12. Việc bố trí, sắp xếp nhân sự gặp khó khăn do thiếu nguồn cán bộ có đủ trình độ và phẩm chất. Tỉnh đã phải thực hiện chính sách giải quyết đầu ra đối với cán bộ hạn chế năng lực chuyên môn.

III. Giải pháp giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ DTTS Quảng Nam

Để nâng cao hiệu quả giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ dân tộc thiểu số, Quảng Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng chính trị, học tập Nghị quyết Đảng cho cán bộ cơ sở. Các huyện miền núi cần mở thêm lớp bổ túc văn hóa từ lớp 10 đến lớp 12 làm cơ sở cho đào tạo chuyên môn và chính trị sau này. Thứ hai, đẩy mạnh chương trình đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt theo Đề án 500 của Ủy ban nhân dân tỉnh giai đoạn 2011-2016. Thứ ba, phát huy vai trò của các trường chính trị, trường đại học trong đào tạo cán bộ DTTS. Cần xây dựng giáo trình phù hợp với đặc thù văn hóa, ngôn ngữ từng dân tộc. Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc học tập lý luận chính trị tại cơ sở. Cuối cùng, tạo cơ chế đãi ngộ xứng đáng để cán bộ yên tâm công tác và cống hiến.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị

Công tác đào tạo bồi dưỡng cần được thực hiện thường xuyên, liên tục với nội dung thiết thực. Các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cần cập nhật tình hình thời sự trong nước và quốc tế. Phương pháp giảng dạy phải đổi mới, phù hợp với đặc điểm nhận thức của cán bộ dân tộc thiểu số. Việc tổ chức học tập Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp cần đi vào chiều sâu, tránh hình thức. Các huyện miền núi như Tây Giang, Đông Giang cần bố trí thời gian học tập linh hoạt, phù hợp với mùa vụ sản xuất nông nghiệp. Cần phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên kiêm chức am hiểu tiếng dân tộc thiểu số.

3.2. Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ đào tạo cán bộ DTTS

Chính sách đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã cần được đầu tư mạnh mẽ hơn nữa. Đề án 500 của Quảng Nam đã đạt kết quả bước đầu trong tuyển chọn, đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt cấp xã. Cần tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo. Cơ chế học bổng, hỗ trợ kinh phí đi lại, ăn ở cho cán bộ DTTS đi học cần được hoàn thiện. Việc xây dựng chính sách đưa sinh viên tốt nghiệp đại học về các xã miền núi cần được nhân rộng. Tỉnh cũng cần ban hành cơ chế khuyến khích cán bộ DTTS tự học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị.

IV. Kết luận và ứng dụng trong giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ DTTS

Giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Quảng Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Kết quả đạt được trong những năm qua cho thấy sự quan tâm đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ DTTS. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo là điều kiện tiên quyết để hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về chính sách dân tộc, phát triển giáo dục nguồn nhân lực. Đại hội X của Đảng đã nêu rõ tiêu chí cán bộ phải có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, có bản lĩnh vững vàng trước khó khăn thử thách. Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp cán bộ DTTS nhận thức đúng đắn, vững vàng trước mọi âm mưu chống phá.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn Quảng Nam

Thực tiễn Quảng Nam rút ra nhiều bài học quý trong giáo dục thế giới quan duy vật cho cán bộ DTTS. Thứ nhất, cần gắn giáo dục lý luận chính trị với thực tiễn công tác tại cơ sở. Thứ hai, phải phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ chủ chốt trong học tập và rèn luyện. Thứ ba, công tác giáo dục cần phù hợp với đặc thù văn hóa từng dân tộc thiểu số. Thứ tư, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể là yếu tố quyết định thành công. Cuối cùng, việc sơ kết, tổng kết định kỳ giúp rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời phương pháp giáo dục.

4.2. Định hướng phát triển đội ngũ cán bộ DTTS trong giai đoạn mới

Giai đoạn tới, Quảng Nam cần xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ DTTS bài bản và toàn diện. Cần quy hoạch nguồn cán bộ trẻ có trình độ đại học, ưu tiên người dân tộc thiểu số tại chỗ. Việc đào tạo phải gắn với quy hoạch, bố trí sử dụng cán bộ hợp lý. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo từ xa cho cán bộ vùng miền núi. Tăng cường hợp tác đào tạo với các trường chính trị, viện nghiên cứu trong và ngoài tỉnh. Xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả giáo dục thế giới quan duy vật một cách khoa học, khách quan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của nó đối với hoạt động thực tiễn của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã người dân tộc thiểu số ở quảng nam luan van dong quyen

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận về thế giới quan duy vật biện chứng 1. Thế giới quan 1. Khái niệm và cấu trúc của thế giới quan Khái niệm thế giới quan Thế giới quan ra đời từ cuộc sống; nó là kết quả trực tiếp của quá trình nhận thức; song, suy cho đến cùng nó là kết quả của cả những yếu tố khách quan và chủ quan, của cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn… Xét về mặt lịch sử, phạm trù thế giới quan xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII do nhà triết học Đức - Cantơ (1704 - 1872) nêu ra, sau đó phạm trù này đã được các nhà triết học và các nhà khoa học sử dụng để chỉ quan niệm của con người về thế giới.Lênin và các nhà mácxit sau này cũng đã đề cập và nghiên cứu phạm trù thế giới quan dưới nhiều góc độ và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau.

Theo Từ điển Triết học do Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxơcơva xuất bản năm 1975 thì: "Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của xã hội nói chung đối với thực tại" [69, tr. Từ điển Triết học do Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội xuất bản năm 1976 định nghĩa thế giới quan như sau: “Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, khái niệm về toàn bộ thế giới xung quanh con người; đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội, các quan điểm triết học xã hội và chính trị, tâm lý, mỹ học, khoa học” [70, tr. 10 11 Từ điển Bách khoa Triết học xuất bản năm 1983 lại định nghĩa thế giới quan như sau: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm đối với thế giới khách quan và vị trí của con người trong thế giới đó; là hệ thống những quan điểm về quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh và bản thân con người cũng như những lập trường sống cơ bản của con người được quy định bởi những quan điểm đó, là niềm tin, lý tưởng, những nguyên tắc nhận thức và hoạt động, những định hướng giá trị [71, tr. Từ điển Tiếng Việt viết như sau: “Thế giới quan là quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội” [72, tr.

Theo tác giả Hoàng Đình Cúc, Thế giới quan là sự nhìn nhận toàn bộ thế giới vật chất và tinh thần. Trong sự nhìn nhận ấy có các quan niệm về thế giới, về con người và cuộc sống của con người. Vì vậy, có thể hiểu rằng thế giới quan là tổng hợp những quan niệm về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới, về chính bản thân mình, về cuộc sống của con người và loài người [5, tr. Tác giả Bùi Ỉnh định nghĩa: Thế giới quan là một hệ thống quan điểm của một chủ thể về thế giới, về những hiện tượng tự nhiên, xã hội và các quy luật phát triển của chúng,về bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới.

Nói cách khác, thế giới quan là phản ánh tồn tại vật chất và xã hội của con người [25, tr. Như vậy, các tác giả với các góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa ra các quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề. Tựu trung lại, dù đề cập ở góc độ nào thì nội dung của thế giới quan cũng nhằm giải quyết ba vấn đề: một là, thế giới mà con người đang sống là gì? hai là, con người có vị trí và vai trò 11 12 như thế nào đối với thế giới đó; ba là, con người có thể tác động đến thế giới ấy như thế nào? Trên cơ sở đó có thể hiểu Thế giới quan là hệ thống quan điểm, quan niệm của một chủ thể (có thể là của một con người, của một tập đoàn, hay của một giai cấp, hoặc của toàn xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trò và khả năng tác động của con người trong thế giới đó. Cấu trúc của thế giới quan Thế giới quan được tạo nên bởi các nhân tố khác nhau.

Các nhân tố này tồn tại là một thực thể phức tạp, đa dạng và có nhiều bình diện, nhưng lại có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Về cơ bản, thế giới quan bao gồm các nhân tố chủ yếu là: Tri thức, niềm tin, lý tưởng. Tri thức là kết quả nhận thức hiện thực dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người, là yếu tố cơ bản nhất và quyết định nhất của thế giới quan, là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; song, tri thức chỉ gia nhập thế giới quan khi nó trở thành niềm tin của con người. Tri thức là yếu tố quan trọng mà bất kỳ thế giới quan nào cũng có khát vọng vươn tới để có tri thức đúng đắn, khách quan về tự nhiên, xã hội và bản thân con người.

Niềm tin không chỉ dựa trên tri thức mà còn là trạng thái xúc cảm và tình trạng tâm lý ổn định. Niềm tin chi phối tình cảm, lương tâm, ý chí, hành động của con người. Chính niềm tin tạo nên tính tích cực của cá nhân mang thế giới quan trong quan hệ với thế giới bên ngoài. Niềm tin thúc đẩy con người hoạt động phù hợp với những quan điểm của mình và xác định phương châm hành động của họ.

Lý tưởng là hình thức đặc biệt của ý thức về hiện thực, là ý thức về cái đang tồn tại và triển vọng phát triển của nó. Lý tưởng gắn với mục đích cuộc sống, gắn với hoạt động thực tiễn của con người. Sự hình thành lý tưởng là sự phát triển của thế giới quan. Lý tưởng là yếu tố quan trọng trong thế giới quan, có sức mạnh định hướng to lớn đối với con người.

12 13 Tóm lại, thế giới quan bao gồm toàn bộ những những quan điểm, quan niệm có tính khái quát đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội và con người. Chúng là cơ sở của sự đánh giá, là kết quả của quá trình nhận thức và là cơ sở để định hướng hoạt động của con người. Từ đó có thể xác định cấu trúc của thế giới quan bao gồm tri thức, niềm tin, lý tưởng về tự nhiên, xã hội, con người cùng tư duy của nó. Thế giới quan là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin, khái niệm, biểu tượng về toàn bộ thế giới, bao gồm: - Về những sự vật, hiện tượng.

- Về quy luật chung của thế giới. - Về chỉ dẫn phương hướng hoạt động của một nhóm người trong xã hội nói chung đối với thực tại (nhằm phát triển sao cho tốt hơn). Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cả thế giới bên ngoài, cả con người và cả mối quan hệ của người với thế giới. Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nam cho hành động của con người.

Các loại thế giới quan Trong lịch sử phát triển của xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau, nhưng tựu trung lại có ba hình thức chủ yếu: thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Thế giới quan huyền thoại: Thế giới quan huyền thoại hình thành và phát triển trong giai đoạn đầu của xã hội loài người, là những quan niện sơ khai về thế giới của người nguyên thủy. Nó là kết quả của những cảm xúc ban đầu của người nguyên thủy về thế giới và con người mà trong đó có sự hòa quyện giữa cái có thật và cái hoang tưởng, cái hiện thực và cái hư ảo, cái lý trí và cái tín ngưỡng, tư duy và cảm xúc. Đặc trưng cơ bản về thế giới quan huyền thoại: 13 14 Về hình thức thể hiện: Thế giới quan huyền thoại thể hiện chủ yếu qua các câu chuyện thần thoại.

Về tính chất: Nội dung của chuyện thần thoại có sự pha trộn giữa thần và người, giữa thật và ảo, trật tự không gian và thời gian bị đảo lộn không tự giác. Bởi vì công xã nguyên thủy chưa có chữ viết, câu chuyện thông qua truyền miệng nên khi truyền miệng thì không chính xác, bản thân người dẫn chuyện đưa tình cảm của mình vào đó và càng ngày độ chính xác càng ít. Nội dung câu chuyện càng ngày càng nhiều hơn. Trong tất cả những câu chuyện thần thoại thì thần thoại Hy Lạp thể hiện rõ nét nhất đặc điểm của thế giới quan.

Thế giới quan huyền thoại thể hiện nổi bật nhất trong thần thoại Hy Lạp. Yếu tố thần và người có sự hòa trộn, đan xen. Thần nhưng lại rất người, người nhưng lại rất thần. Về trình độ nhận thức: Thế giới quan huyền thoại thể hiện trình độ nhận thức thấp, chủ yếu ở cấp độ nhận thức cảm tính, nên những gì trừu trượng thường được con người hình dung dưới những sự vật hữu hình, cụ thể.

Thế giới quan tôn giáo: Thế giới quan tôn giáo là sự phản ánh một cách hư ảo hiện thực. Về hình thức thể hiện: Thế giới quan tôn giáo thể hiện qua giáo lý của các tôn giáo. Về tính chất: Trong thế giới quan tôn giáo niềm tin cao hơn lý trí, nặng tính hư ảo, tuyệt đối hóa yếu tố thần thánh, vai trò con người bị hạ thấp. Về trình độ nhận thức: Thế giới quan tôn giáo ra đời khi trình độ nhận thức và khả năng hoạt động thực tiễn của con người còn rất thấp, nên con người bất lực, sợ hãi trước những lực lượng tự nhiên cũng như những lực lượng xã hội dẫn đến việc họ thần thánh hoá chúng, quy chúng về sức mạnh siêu tự nhiên và tôn thờ chúng.

Trong tất cả các tôn giáo chỉ có tôn giáo Phật giáo là nói đến sức mạnh của con người. Con người có thể giải thoát cho mình bằng cách tích nghiệp thiện, tạo nghiệp thiện. Do vậy, thế giới quan tôn giáo không thể tồn tại với tư cách là một thế giới quan khoa học. 14 15 Thế giới quan triết học: Thế giới quan triết học là trình độ cao của thế giới quan.

Nó ra đời trên cơ sở nhận thức của con người đã đạt đến sự khái quát hóa, trừu tượng hóa. Thế giới quan triết học là thế giới quan có hạt nhân lý luận là các học thuyết triết học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ