đặt vấn đề phải có Hiến pháp ban hành, nêu cao vai trò quản lý nhà nước bằng luật pháp theo tinh thần “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, phản ánh tư tưởng cốt lõi của Người về nhà nước dân chủ mới - nhà nước tôn trọng pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật. Với tinh thần “bảo vệ pháp quyền”, Nhà nước phải được tổ chức và hoạt động theo hiến pháp và pháp luật. Chỉ một ngày sau khi giành được độc lập, đọc Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đề xuất với Chính phủ một trong sáu nhiệm vụ cấp bách: “Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng tốt”.
nhất có thể là một cuộc Tổng tuyển cử với quyền bầu cử phổ thông." Và trong một thời gian ngắn, Hồ Chí Minh đã tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, khẩn trương xây dựng và thông qua Hiến 14 pháp năm 1946, đặt nền móng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Là Chủ tịch nước (từ 1945 đến 1969), Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lập pháp mà còn là nhà điều hành có ý nghĩa quan trọng nhất trong sự nghiệp xây dựng hiến pháp và lập pháp của nước ta. Ông đã hai lần làm chủ tịch Ủy ban soạn thảo Hiến pháp vào các năm 1946 và 1959, ký và ban hành 16 luật, 613 nghị định và nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 243 nghị định về tổ chức nhà nước, qua đó hình thành một hệ thống pháp luật với nhiều nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền. Trong quá trình chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và pháp luật, tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Nhà nước ta là của nhân dân, pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, nhưng phải chặt chẽ và hiệu quả.
Người nhấn mạnh: "Không ngừng tăng cường quyền lực của chính quyền nhân dân. Thực hiện nghiêm túc dân chủ với nhân dân, chuyên biệt với kẻ thù. Chấp hành đầy đủ mọi chế độ, pháp luật của Nhà nước"; “Pháp luật phải trừng phạt nghiêm khắc những kẻ vô trách nhiệm, bất kể chức vụ, nghề nghiệp của họ.” Hồ Chí Minh luôn nêu gương trong việc khuyến khích nhân dân phản biện, giám sát công việc của Chính phủ, đồng thời nhắc nhở cán bộ các cấp, nhất là trong lĩnh vực hành chính, tư pháp phải gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc, Người viết: “Các bạn là những người có trách nhiệm thực thi pháp luật.
Đương nhiên, các bạn phải nêu cao lý tưởng “Phục vụ nhân dân, làm đúng thủ tục, làm việc cần cù, quên mình” để nhân dân thực hiện." Để tiến tới một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, biết quản lý nhà nước, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tâm, tận lực suốt đời phục vụ nhân dân. Người đã ký Sắc lệnh số 197 thành lập Khoa Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam, ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950 ban hành Quy chế công chức, chú trọng chế độ thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính, khởi xướng việc xây dựng hệ tiêu chuẩn cho đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng chính quy, hiện đại, dân chủ, công bằng, công khai. Không chỉ quan tâm đến việc xây dựng pháp luật và đội ngũ cán bộ công chức nhà nước ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến việc đưa pháp luật vào đời sống, tạo cơ chế để pháp luật 15 được thi hành nghiêm minh. Người rất coi trọng việc giáo dục pháp luật cho nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước.
Đối với các cán bộ và cơ quan nhà nước, Người đòi hỏi không những phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và kỹ lưỡng Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân, mà còn phải đặc biệt “gương mẫu trong việc thi hành Hiến pháp và các luật lệ”. Ba là, nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân, vì dân phải là Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở tìm cách làm thế nào để Nhà nước ta trở thành một nhà nước pháp quyền kiểu mới, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, khắc phục được những căn bệnh cố hữu của các nhà nước kiểu cũ. Trong rất nhiều giải pháp đã thực hiện, có hai nội dung cơ bản được Người đặc biệt quan tâm, đó là: - Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả phải kết hợp chặt chẽ giữa “đức trị” và “pháp trị”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, không được coi nhẹ mặt nào. Xây là ra sức giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng cho nhân dân, trước hết là cán bộ, công chức, đảng viên, những người có chức, có quyền, đi đôi với việc chống chủ nghĩa cá nhân, dùng pháp luật nghiêm trị những kẻ vi phạm pháp luật và thoái hóa đạo đức, làm hại cho dân, cho nước.
Để làm tròn vai trò là “đày tớ của nhân dân”, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự gần dân, biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, làm việc gì cũng phải bàn bạc kỹ và học hỏi kinh nghiệm của nhân dân, thực sự yêu dân, kính dân, tin cậy và trọng dân, ăn ở công bằng và thực sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Đi đôi với giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh cũng rất kiên quyết với những hành vi vi phạm pháp luật và trừng trị nghiêm khắc những kẻ phạm tội, dù người đó ở cương vị nào. Ngày 27-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ. Ngày 26-01-1946, Người ký “Quốc lệnh” khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình.
Trong trả lời chất vấn của Quốc hội vào năm 1946, Người nói: “Chính phủ hết sức làm gương, nếu làm gương không xong thì 16 sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ hối lộ, đã trừng trị, đang trừng trị và sẽ trừng trị cho kỳ hết”. Hồ Chủ tịch đã bác đơn xin ân xá giảm án tử hình của nhiều kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, dù đó là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước. Trong việc thực thi quyền hạn và trách nhiệm của mình với cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh luôn thể hiện là một con người gương mẫu, sáng suốt, thống nhất hài hòa giữa lý trí và tình cảm, bao dung, nhân ái, nhưng vẫn giữ nghiêm kỷ cương phép nước. Người không bao che, dung túng cho những hành vi sai lầm, khuyết điểm, vi phạm pháp luật của bất cứ ai, nhưng đồng thời vẫn dùng sức mạnh, uy tín của mình để cảm hóa những người có lỗi lầm, kéo họ về phía cách mạng, giáo dục những người mắc khuyết điểm để họ tránh vi phạm pháp luật.
- Luôn đề phòng và chủ động khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước, kiên quyết chống ba thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước phụ thuộc vào tính nghiêm minh của việc thi hành pháp luật và sự trong sạch, gương mẫu về đạo đức của những người cầm quyền. Vì vậy, phải luôn nêu cao cảnh giác với những biểu hiện tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, công chức, giữ cho Nhà nước luôn trong sạch, vững mạnh. Chỉ một tháng sau khi lập nước, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng nêu rõ sáu căn bệnh cần đề phòng là: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.
Người nhắc nhở: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung. Vì hạnh phúc của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà, mà tôi phải nói.
Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng. Vũ khí để phòng ngừa, khắc phục những sai lầm trên, theo Hồ Chí Minh, chính là đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, phát huy vai trò gương mẫu, tự giác đề phòng và sửa chữa sai lầm trong nội bộ tổ chức, đồng thời tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Người viết: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên còn có nhiều khuyết điểm. Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia.
Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc của Chính phủ”. Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ba thứ “giặc nội 17 xâm”, “giặc trong lòng”, những căn bệnh nguy hiểm tiềm ẩn trong bộ máy nhà nước mà chúng ta phải luôn đề phòng và kiên quyết chống, nếu không sẽ dẫn đến nguy cơ suy thoái, đổ vỡ không lường hết được. Người nói: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta.
Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian, mật thám”. Người chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa đánh thù trong và diệt giặc ngoài: “Chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Nếu chiến sĩ và nhân dân ta ra sức chống ngoại xâm và quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”.