Mở đầu là vào năm 1466, ông bỏ chế độ xã quan, đổi chức xã quan thành xã trưởng. Đại xã dùng 5 người làm xã trưởng, trung xã 4 người, xã nhỏ 100 hộ trở lên 2 người, xã nhỏ dưới 60 hộ một người. Năm 1488, ông xuống lệnh không cho phép những người là anh em ruột, anh em con chú bác, cô cậu, dì già cùng làm xã trưởng. Đến năm 1496, quy định này được mở rộng ra những đối tượng là cháu chú cháu bác, cháu cô cháu cậu và thông gia với nhau.
Mục đích của việc này là nhằm ngăn chặn hiện tượng lợi dụng quan hệ họ hàng, thông gia để kết bè kéo cánh, nắm giữ các chức vụ quan trọng ở làng xã, tạo thành những thế lực chính trị để khống chế nông thôn. Ngoài ra, Lê Thánh Tông ban hành 24 điều giáo huấn năm 1470 và trong các chỉ dụ năm 1471, 1483 nhắc tới việc dùng luật pháp làm công cụ để chống lại nạn cường hào ở nông thôn và bị trừng trị nếu vi phạm. Bộ máy hành chính ở xã gồm các chức: xã trưởng (xã chính), xã sử, xã tư (xã phó). Xã trưởng là người đứng đầu bộ máy hành chính làng xã – đơn vị cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền nhà nước, cũng vừa là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ cho toàn thể dân làng trước nhà nước, là cầu nối giữa dân làng với nhà nước.
Xã trưởng là người thu thuế ở địa phương mình, tổ chức và chọn các định tráng ở địa phương để tham gia vào đội ngũ binh lính của nhà nước, chọn thí sinh đi dự các kỳ thi, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, giải quyết các vụ kiện trong xã. Nhận xét Từ các triều đại trước, việc tổ chức bộ máy còn sơ sài, chủ yếu là tổ chức theo cơ chế trung ương đến địa phương, dưới địa phương tồn tại đến quận, 15 huyện, châu, còn cấp hành chính xã chưa được chú trọng và hầu như chỉ là về mặt hình thức. Đến thời Lê sơ thì các vị vua đã dần hoàn thiện bộ máy nhà nước để quản lý đất nước chặt chẽ và nhằm mục đích phát triển kinh tế, quan tâm về mặt xã hội đến được tất cả những người dân. Các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền cấp xã dưới thời Lê sơ lúc bấy giờ được tổ chức chặt chẽ.
Đến thời vua Lê Thánh Tông, tổ chức bộ máy nhà nước được coi là hoàn chỉnh và chặt chẽ nhất so với các đời vua trước, Triều đình dưới thời Vua Lê Thánh Tông có đầy đủ các bộ, tự, các khoa và các cơ quan chuyên môn. Hệ thống thanh tra giám sát giám sát được tăng cường từ triều đình đến địa phương, điều này giúp các vị vua có thể ổn định được đất nước, tập trung phát triển kinh tế đất nước cường thịnh. Với cái nhìn tiến bộ và khách quan, các vị vua thời Lê sơ đã tổ chức bộ máy nhà nước chặt chẽ, làm nền tảng vững chắc trong việc quản lý đất nước cũng như phát triển đất nước toàn diện, thành công đưa Đại Việt trở thành nước phát triển nhất khu vực Đông Nam Á thời điểm bấy giờ, đấy được xem là thành công nhất của thời Lê Sơ. 16 CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ 2.
Sự ra đời Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Luật hình triều Lê, Luật Hồng Đức) là Bộ luật chính thức của nước Đại Việt thời Lê sơ được ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông (1470 – 1497). Những nội dung cơ bản về pháp luật 2. Pháp luật hình sự 2.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự a) Nguyên tắc “vô luật bất hình” Thứ nhất, Mọi hành vi phạm tội phải được xử lý nhanh chóng. Khi có lệnh bắt tội phạm thì người có thẩm quyền ngay lập tức triển khai lệnh bắt người; không được chần chừ.
Trong thời hạn 30 ngày phải bắt người phạm tội; nếu quá hạn mà chưa bắt được phải báo cấp có thẩm quyền để tìm biện pháp giải quyết (Điều 645 Bộ luật Hồng Đức ). Thứ hai, việc xử lý hành vi phạm tội phải bảo đảm đúng luật theo hướng pháp luật không quy định thì không được coi là có tội và không được áp dụng hình phạt. Điều 683 quy định “Khi luận tội phải dẫn đủ chính văn và cách thức của luật lệnh, không được tự ý thêm bớt tội. Như vậy, khi xét xử phải căn cứ vào những văn bản pháp luật đã được ban hành và coi đó là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để phán xét.
Quan xử án không được tuỳ tiện xử án theo ý riêng của mình. Điều 685 quy định: “Những sắc chế xử án của nhà vua có tính nhất thời, không phải là sắc lệnh vĩnh viễn thì không được viện dẫn sắc lệnh ấy mà xử đoán việc sau”. Điều 722 quy định: “hình quan (quan toà xử án) khi định tội danh, chiểu (viện dẫn) chính điều đã có trong luật, không được tự ý thêm bớt. Mặc dù pháp luật không dành điều luật nào để quy định nguyên tắc này nhưng tổng hợp các điều luật thể hiện rất rõ quan điểm của nhà làm luật là phải dùng 17 các văn bản pháp luật đang có hiệu lực làm cơ sở pháp lý để xét xử người phạm tội.
Tức là chỉ bị khép vào một tội và hình phạt cho tội danh đó theo điều khoản cụ thể pháp luật đã quy định. Bộ luật Hình sự hiện hành ở nước ta cũng quy định “chỉ người nào phạm một tội do Bộ luật này định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999). Từ đó có thể thấy sự tiến bộ của pháp luật nhà Lê khi quy định “vô luật bất hình” và sự thể hiện của nó trong quá trình xét xử người phạm tội. b) Nguyên tắc chiếu cố Thể hiện chính sách khoan hồng, chiếu cố đối với người phạm tội trong một số trường hợp.
Nguyên tắc này thể hiện qua một số nội dung sau: Chiếu cố theo địa vị xã hội, gồm 8 hạng người (Điều 3): nghị thân (họ hàng tôn thất nhà vua), nghị cố (các bậc công thần, cố cựu), nghị hiền (người có đức hạnh lớn), nghị năng (người có tài năng lớn), nghị công (những người có công lớn), nghị quý (người có tước nhị phẩm trở lên), nghị cần (người siêng năng, chăm chỉ) và nghị tân (quốc khách hoặc con cháu các triều đại trước), trừ khi phạm vào nhóm tội thập ác. Chiếu cố theo tuổi tác và người tàn tật (Điều 16 Người từ 15 tuổi trở xuống hoặc từ 70 tuổi trở lên cùng những người bị phế tật phạm tội được dùng tiền chuộc tội (trừ khi phạm vào nhóm tội thập ác sẽ do nhà vua quyết định). Theo Điều 17, còn áp dụng luật theo hướng có lợi cho người phạm tội. Nếu khi phạm tội chưa đến 15 tuổi nhưng khi quá 15 tuổi mới phát hiện hoặc phạm tội lúc chưa đến 70 tuổi nhưng sau đó (quá 70 tuổi) mới phát hiện thì vẫn cho phép dùng tiền để chuộc tội và áp dụng theo luật lúc còn nhỏ hoặc khi già cả để định tội.
Mức tiền chuộc tội được quy định tại Điều 21, 22 Bộ luật Hồng Đức. Chiếu cố, khoan hồng khi phạm tội do lầm lỡ hoặc trường hợp khác: Một là, chiếu cố đối với người vô ý phạm tội: theo Điều 47 và 499, hành vi phạm tội thuộc một trong hai loại lỗi, hoặc cố ý hoặc vô ý. Pháp luật không nêu ra định nghĩa về lỗi nhưng mô tả các đặc trưng, dấu hiệu của mỗi loại lỗi. 18 Theo đó, hành vi phạm tội do sơ suất, lầm lỡ và không mong muốn hoặc không lường trước hậu quả sẽ xảy ra được coi là lỗi vô ý; ngược lại là lỗi cố ý.
Nguyên tắc xử lý hành vi phạm tội theo lỗi được quy định tại Điều 49, theo đó tha người lầm lỡ không bắt tội nặng (tức hình phạt nặng), bắt tội người cố ý không kể tội nhẹ. Hai là, chiếu cố, giảm tội con cháu chịu tội thay cho ông bà; tội phạm ra đầu thú, tự thú; các dịp ân xá người phạm tội; không thi hành án đối với phụ nữ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 100 ngày tuổi (Điều 680). c) Nguyên tắc trừng trị nặng người phạm tội chủ mưu, cố ý phạm tội Pháp luật nhà Lê sơ đã đặt ra vấn đề đồng phạm nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng và có tính khái quát cao. Vấn đề đồng phạm được quy định tại các Điều 35, 415, 418, 420, 426, 469.
Bộ luật Hồng Đức. Trong vụ án đồng phạm bao giờ cũng có ít nhất từ hai người trở lên cùng tham gia; mỗi người có vai trò khác nhau, như chủ mưu, thực hành, xúi giục, giúp sức. Trong số những hành vi này, người giữ vai trò chủ mưu bị xử lý nghiêm khắc nhất. Điều 35 Bộ luật Hồng Đức quy định “Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng (ăn theo) được giảm một bậc.
Nếu tất cả những người trong nhà cùng phạm tội thì chỉ bắt tội người tôn trưởng.” Về nguyên tắc chung khi xử lý các vụ án phạm tội đồng phạm, người chủ mưu cần phải trừng trị nghiêm khắc nhất nên hình phạt áp dụng cho họ ở mức nặng nhất so với những người phạm tội khác. Trong trường hợp nhiều người cùng hiệp (hội) ý phạm tội nhưng không xác định được người chủ mưu thì người thực hiện hành vi quyết liệt nhất hoặc gây ra hậu quả nặng nhất sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhất. Điều 469 quy định “Đồng mưu đánh người bị thương thì kẻ nào đánh nhiều đòn nặng là thủ phạm; người tòng phạm thì được giảm một bậc. Bên cạnh đó, pháp luật hình sự nhà Lê sơ còn trừng phạt nặng đối với người cố ý phạm tội.
Trên tinh thần đó, Điều 49 Bộ luật Hồng Đức quy định: 19 “Tha người lầm lỡ không bắt tội nặng (tức hình phạt nặng), bắt tội người cố ý không kể tội nhẹ”. Bởi lỗi cố ý luôn phản ánh trạng thái tâm lý tiêu cực và thái độ bất chấp, coi thường pháp luật của người phạm tội; nó luôn có khả năng gây ra những tổn thất, thiệt hại đáng kể cho xã hội nên cần nghiêm trị. Quan niệm về tội phạm và dấu hiệu tội phạm Pháp luật nhà Lê không nêu ra khái niệm về tội phạm cũng như các dấu hiệu chung nhất của một hành vi phạm tội mà có xu hướng mô tả cụ thể, chi tiết từng hành vi phạm tội theo mức độ hậu quả, sự nguy hiểm của hành vi.