Vận dụng Mác-Lênin về dân chủ cơ sở tại Bệnh viện Hùng Vương (Đặng Thị Thúy Hằng)

Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin về đặc trưng chính trị xã hội chủ nghĩa vào thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại Bệnh viện Hùng Vương. Phân tích và giải pháp.

Chuyên ngành

Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (Chủ nghĩa xã hội khoa học)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019 - 2021

49
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN, ĐƠN VỊ

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN CHẤM KHÓA LUẬN

MỤC LỤC

I. Lý do chọn đề tài

II. Đặc Trưng Chính Trị Của Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa - Cốt Lỏi Là Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ xã hội chủ nghĩa

3. Quy chế dân chủ cơ sở và dân chủ ở Bệnh viện Hùng Vương

4. Thực trạng và giải pháp thực hiện dân chủ ở Bệnh viện Hùng Vương hiện nay

4.1. Thực trạng dân chủ ở Bệnh viện Hùng Vương

4.2. Những điểm mạnh

4.3. Những điều còn hạn chế

4.4. Một số giải pháp để tiếp tục thực hiện dân chủ ở Bệnh viện Hùng Vương được tốt hơn

III. KẾT LUẬN

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Dân chủ cơ sở Hùng Vương Tổng quan Mác Lênin 50 60 ký tự

Quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về dân chủ có giá trị khoa học, cách mạng và thực tiễn to lớn, là nền tảng tư tưởng và phương pháp luận cho công cuộc đổi mới nói chung, trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nói riêng ở Việt Nam. Vì vậy trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng phát huy dân chủ trong mọi tổ chức hoạt động, đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Dân chủ là bản chất Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đảng và nhà nước ta luôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân để tạo ra sức mạnh to lớn, góp phần quyết định vào sự nghiệp thành công của cách mạng. Quyền làm chủ của nhân dân ta đã được ghi trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong lãnh đạo đấu tranh cách mạng, trải qua cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sau đó là cách mạng dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong những năm gần đây Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới về kinh tế, chính trị nhằm không ngừng tăng cường và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhờ đó đã đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, trong nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhận thức của Đảng ta về thực hành dân chủ ngày càng toàn diện và sâu sắc. Điều này thể hiện rõ hơn cả ở chỗ quyền công dân gắn với quyền con người được đề cao, tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật, tích cực thực hiện các công ước quốc tế liên quan quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và tham gia; coi trọng dân chủ ở cơ sở, coi trọng phản biện xã hội, đề cao thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên ở một số nơi, trên một số lĩnh vực quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn hạn chế chưa được phát huy rộng rãi và mạnh mẽ. Tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng vẫn còn xảy ra đã làm giảm lòng tin trong nhân dân. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đôi khi được thực hiện chưa tốt hoặc còn mang tính hình thức. Mở rộng xã hội chủ nghĩa phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm phát huy bản chất tốt đẹp của nhà nước ta đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tự diễn biến, tự chuyển hóa, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu nhân dân trong bộ máy nhà nước, cần làm cho cán bộ, nhân dân nhận thức một cách sâu sắc, nhằm xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, dựa vào sức mạnh của dân thì mới có thể xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Dân chủ xã hội chủ nghĩa toàn diện có nội dung phong phú mới phát triển được trên các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Nó có vai trò to lớn trong việc trong thời kì đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện dân chủ trong mọi mặt của đời sống xã hội là một yêu cầu không thể thiếu của xã hội hiện nay. Đảng và nhà nước ta trong những năm gần đây đã hết sức chú trọng đến công tác dân chủ để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ đã ra đời và đi vào thực tiễn cuộc sống góp phần đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong mọi phương diện. Trong môi trường bệnh viện việc thực hiện dân chủ hóa lại là điều hết sức cần thiết phải được đẩy mạnh. Bởi ở đó các đối tượng quản lý là những người có tri thức chất lượng cao. Chính ở môi trường đó có được một bầu không khí dân chủ thực sự sẽ là động lực lớn cho sự phát triển bền vững. Thực trạng dân chủ trong những năm gần đây tại bệnh viện có thể nói đã làm tốt công tác dân chủ hóa. Tuy nhiên cũng còn không ít nơi vẫn còn tình trạng bất đồng trong đội ngũ, tình trạng khiếu nại, kiện tụng vẫn xảy ra đặc biệt là tình trạng khiếu nại, tố cáo bằng đơn thư nặc danh…tình hình đó đã gây nên sự mất đoàn kết nội bộ, sự phân chia bè nhóm, sự liên kết đấu tranh vì những động cơ tiêu cực, tệ hại hơn là làm cho không khí trong môi trường bệnh viện trở nên ngột ngạt, nhiều áp lực, chất lượng khám chữa bệnh trở nên giảm sút. Một khi đơn vị có những vấn đề đó có nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân cần quan tâm tập trung điều chỉnh đó là là việc thực hiện công tác dân chủ hóa. Một khi mà nhà lãnh đạo điều hành thiếu dân chủ, thiếu công khai minh bạch, thậm chí chuyên quyền, độc đoán thì việc phát sinh bất đồng và đấu tranh dưới mọi hình thức là tất yếu. Làm thế nào để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh thực sự hiệu quả trong bệnh viện? Theo tôi cần chú ý tới một số nội dung cần thiết sau: Thực hiện tốt công tác dân chủ hóa bệnh viện, một yếu tố căn bản góp phần xây dựng bệnh viện Hùng Vương ổn định và phát triển bền vững lâu dài.

1.1. Khái niệm dân chủ theo Mác Lênin

Dân chủ là sản phẩm phản ánh tính chất các mối quan hệ xã hội, trình độ và yêu cầu phát triển của xã hội, nhất là mối quan hệ, trình độ và yêu cầu phát triển kinh tế. Từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm về hình thái kinh tế - xã hội và mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng, dân chủ được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin lý giải một cách khoa học, nhất là về cơ sở, nguồn gốc, bản chất và yếu tố ảnh hưởng của nó. Bởi vì, “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị”. Và “hình thái sản xuất đều sản sinh ra những quan hệ pháp lý, những hình thức quản lý, v. Dân chủ - quyền làm chủ của con người trong xã hội - luôn dựa trên những cơ sở hiện thực của nó, nhất là cơ sở kinh tế.

1.2. Vai trò của Đảng trong thực hiện dân chủ

Chế độ dân chủ là chế độ mà mọi quyền hành đều thuộc về nhân dân, do vậy, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Đảng và Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi cán bộ, công chức đều phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, có trách nhiệm hoàn thành tốt chức trách và nhiệm vụ được nhân dân giao phó. Pháp chế xã hội chủ nghĩa cần được tăng cường, trách nhiệm công dân cần được đề cao, cơ chế và biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước cần được hoàn thiện.

II. Thách thức dân chủ cơ sở Thực trạng Bệnh viện 50 60 ký tự

Trong môi trường bệnh viện việc thực hiện dân chủ hóa lại là điều hết sức cần thiết phải được đẩy mạnh. Bởi ở đó các đối tượng quản lý là những người có tri thức chất lượng cao. Chính ở môi trường đó có được một bầu không khí dân chủ thực sự sẽ là động lực lớn cho sự phát triển bền vững. Thực trạng dân chủ trong những năm gần đây tại bệnh viện có thể nói đã làm tốt công tác dân chủ hóa. Tuy nhiên cũng còn không ít nơi vẫn còn tình trạng bất đồng trong đội ngũ, tình trạng khiếu nại, kiện tụng vẫn xảy ra đặc biệt là tình trạng khiếu nại, tố cáo bằng đơn thư nặc danh…tình hình đó đã gây nên sự mất đoàn kết nội bộ, sự phân chia bè nhóm, sự liên kết đấu tranh vì những động cơ tiêu cực, tệ hại hơn là làm cho không khí trong môi trường bệnh viện trở nên ngột ngạt, nhiều áp lực, chất lượng khám chữa bệnh trở nên giảm sút. Một khi đơn vị có những vấn đề đó có nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân cần quan tâm tập trung điều chỉnh đó là là việc thực hiện công tác dân chủ hóa. Một khi mà nhà lãnh đạo điều hành thiếu dân chủ, thiếu công khai minh bạch, thậm chí chuyên quyền, độc đoán thì việc phát sinh bất đồng và đấu tranh dưới mọi hình thức là tất yếu. Làm thế nào để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh thực sự hiệu quả trong bệnh viện? Theo tôi cần chú ý tới một số nội dung cần thiết sau: Thực hiện tốt công tác dân chủ hóa bệnh viện, một yếu tố căn bản góp phần xây dựng bệnh viện Hùng Vương ổn định và phát triển bền vững lâu dài.

2.1. Vấn đề nội bộ Mất đoàn kết và khiếu nại

Tình trạng bất đồng trong đội ngũ, khiếu nại, tố cáo bằng đơn thư nặc danh gây mất đoàn kết nội bộ. Sự phân chia bè nhóm, liên kết đấu tranh vì những động cơ tiêu cực làm cho không khí bệnh viện trở nên ngột ngạt, nhiều áp lực, giảm sút chất lượng khám chữa bệnh. Nhà lãnh đạo thiếu dân chủ, công khai minh bạch, chuyên quyền, độc đoán dẫn đến phát sinh bất đồng và đấu tranh dưới mọi hình thức.

2.2. Nguyên nhân sâu xa Thiếu công khai và minh bạch

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những thách thức trong thực hiện dân chủ ở Bệnh viện Hùng Vương là sự thiếu công khai và minh bạch trong một số hoạt động. Điều này có thể bao gồm việc thiếu thông tin về các quyết định quan trọng, quy trình làm việc không rõ ràng hoặc thiếu sự tham gia của nhân viên trong quá trình ra quyết định. Để giải quyết vấn đề này, cần tăng cường tính công khai và minh bạch trong mọi hoạt động của bệnh viện, đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội tiếp cận thông tin và tham gia vào quá trình ra quyết định.

III. Phương pháp vận dụng Mác Lênin Dân chủ Hùng Vương 50 60

Để giải quyết các thách thức trong thực hiện dân chủ cơ sở tại Bệnh viện Hùng Vương, việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ là vô cùng quan trọng. Theo Mác-Lênin, dân chủ không chỉ là một hình thức chính trị mà còn là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự tham gia tích cực của mọi thành viên trong xã hội. Dưới đây là một số phương pháp cụ thể để vận dụng Mác-Lênin vào thực tế Bệnh viện Hùng Vương: 1. Nâng cao nhận thức về dân chủ: Tăng cường giáo dục và tuyên truyền về ý nghĩa và vai trò của dân chủ trong sự phát triển của bệnh viện. Mọi cán bộ, nhân viên cần hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tham gia xây dựng một môi trường làm việc dân chủ và công bằng. 2. Đảm bảo sự tham gia của mọi người: Tạo điều kiện để mọi cán bộ, nhân viên có cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định của bệnh viện. Điều này có thể được thực hiện thông qua các cuộc họp, hội thảo hoặc các kênh thông tin trực tuyến. 3. Xây dựng cơ chế kiểm soát và giám sát: Thiết lập một cơ chế kiểm soát và giám sát hiệu quả để đảm bảo rằng mọi hoạt động của bệnh viện đều tuân thủ nguyên tắc dân chủ và công bằng. Cơ chế này cần bao gồm sự tham gia của các tổ chức quần chúng, như công đoàn và đoàn thanh niên. 4. Giải quyết kịp thời các mâu thuẫn: Khi có mâu thuẫn xảy ra, cần giải quyết kịp thời và công bằng, trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của mọi người. Cần tránh tình trạng dồn nén mâu thuẫn, gây mất đoàn kết trong nội bộ bệnh viện. 5. Phát huy vai trò của người đứng đầu: Người đứng đầu bệnh viện cần là tấm gương sáng trong việc thực hiện dân chủ. Họ cần lắng nghe ý kiến của mọi người, tôn trọng sự khác biệt và giải quyết các vấn đề một cách công bằng và minh bạch.

3.1. Nâng cao nhận thức về quyền dân chủ

Giáo dục và tuyên truyền về ý nghĩa và vai trò của dân chủ. Mọi cán bộ, nhân viên cần hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Xây dựng môi trường làm việc dân chủ và công bằng.

3.2. Tạo cơ hội tham gia ra quyết định

Tạo điều kiện để mọi cán bộ, nhân viên có cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định. Thực hiện thông qua các cuộc họp, hội thảo hoặc các kênh thông tin trực tuyến. Đảm bảo tính minh bạch trong quá trình này.

IV. Ứng dụng thực tiễn Quy chế dân chủ tại Hùng Vương 50 60

Bệnh viện Hùng Vương đã triển khai nhiều biện pháp để thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động, bao gồm: Công khai thông tin: Bệnh viện công khai các thông tin về tài chính, nhân sự, quy trình khám chữa bệnh, giá dịch vụ,... để mọi cán bộ, nhân viên và người bệnh đều có thể tiếp cận. Tham gia ý kiến: Bệnh viện tổ chức các cuộc họp, hội thảo để cán bộ, nhân viên tham gia ý kiến vào các quyết định quan trọng. Kiểm tra, giám sát: Bệnh viện thành lập các tổ chức kiểm tra, giám sát để đảm bảo rằng mọi hoạt động đều tuân thủ quy định. Giải quyết khiếu nại, tố cáo: Bệnh viện có quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo rõ ràng, đảm bảo quyền lợi của người bệnh và cán bộ, nhân viên. Tuy nhiên, để quy chế dân chủ thực sự phát huy hiệu quả, Bệnh viện Hùng Vương cần tiếp tục hoàn thiện các biện pháp đã triển khai và thực hiện thêm một số biện pháp mới, như: Tăng cường đào tạo về dân chủ: Bệnh viện cần tăng cường đào tạo về dân chủ cho cán bộ, nhân viên, giúp họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng: Bệnh viện cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, như công đoàn và đoàn thanh niên, trong việc tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ. Xây dựng văn hóa dân chủ: Bệnh viện cần xây dựng một văn hóa dân chủ, trong đó mọi người đều tôn trọng lẫn nhau, lắng nghe ý kiến của nhau và hợp tác để giải quyết các vấn đề chung.

4.1. Công khai minh bạch thông tin bệnh viện

Bệnh viện công khai các thông tin về tài chính, nhân sự, quy trình khám chữa bệnh, giá dịch vụ,... để mọi người đều có thể tiếp cận thông tin.

4.2. Tham gia ý kiến vào các quyết định

Bệnh viện tổ chức các cuộc họp, hội thảo để cán bộ, nhân viên tham gia ý kiến vào các quyết định quan trọng. Thu thập và phân tích ý kiến một cách khách quan và minh bạch.

V. Hiệu quả thực hiện Điểm mạnh và hạn chế 50 60

Năm 2020, trước diễn biến khó lường của đại dịch Covid-19, Bệnh viện Hùng Vương đã vượt qua khó khăn, thách thức và gặt hái được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Thành công trong tổ chức Đại hội Đảng bộ bệnh viện lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, đã như phát súng lệnh để biến quyết tâm từ Nghị quyết Đảng bộ thành hành động cụ thể tại tất cả các khoa phòng, trên tất cả các lĩnh vực hoạt động trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân. Sau 3 năm từ ngày khởi công, công trình xây dựng bệnh viện Hùng Vương giai đoạn 2 đã được hoàn tất. Tuy nhiên, việc thực hiện quy chế dân chủ còn một số hạn chế như sau: Ban chấp hành Đảng ủy có quan tâm đến công tác quy hoạch, đào tạo chuẩn hóa nguồn quy hoạch. Tuy nhiên, công tác này chưa được thực hiện thường xuyên, vì vậy hiện nay bệnh viện còn thiếu đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản về quản lý, chuyên môn, chính trị, ngoại ngữ và đào tạp kỹ năng mềm. Ban thanh tra nhân dân của nhà trường có hoạt động, nhưng chưa được thường xuyên, việc kiểm tra giám sát còn lúng túng, chưa phát huy đúng vai trò, trách nhiệm. Việc báo cáo định kỳ và giải quyết các vấn đề của các đoàn thể trong bệnh viện đôi lúc còn chậm trễ, chưa kịp thời dẫn đến gây bức xúc trong dư luận quần chúng. Trong bệnh viện vẫn còn một số viên chức, nhân viên trong các buổi họp còn ngại tham gia đóng góp ý kiến.

5.1. Thành công vượt khó trong dịch bệnh

Bệnh viện Hùng Vương đã vượt qua nhiều khó khăn do dịch bệnh COVID-19 gây ra, vẫn duy trì và phát triển hoạt động chuyên môn, chăm sóc sức khỏe người dân. Bên cạnh đó còn tích cực tham gia các hoạt động phòng chống dịch do Sở Y Tế điều phối.

5.2. Tồn tại Thiếu cán bộ và kiểm tra

Vẫn còn tình trạng thiếu hụt cán bộ được đào tạo bài bản về quản lý, chuyên môn. Hoạt động của ban thanh tra nhân dân chưa thực sự hiệu quả. Báo cáo định kỳ đôi khi chậm trễ gây bức xúc.

VI. Tương lai Dân chủ cơ sở Giải pháp cho Hùng Vương 50 60

Để tiếp tục thực hiện dân chủ ở Bệnh viện Hùng Vương, cần nâng cao trách nhiệm của Ban Giám đốc, trưởng/phó khoa phòng. Giám đốc quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan theo chế độ thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp trên về toàn bộ hoạt động của cơ quan về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động theo quy định. Giám đốc điều hành, phân cấp quản lý, quyền hạn của các Phó giám đốc; trưởng phó các khoa, phòng chức năng để các khoa/phòng chủ động và thực hiện hiệu quả công việc. Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan về các mặt tư tưởng, phẩm chất đạo đức, sử dụng, đào tạo, thực hiện chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có phẩm chất, năng lực. Tại cuộc họp giao ban thường kỳ, Giám đốc lồng ghép giao ban chuyên môn, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, nhà nước, địa phương, ngành; đánh giá việc thực hiện công việc thời gian qua, lắng nghe ý kiến đóng góp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và định ra những việc chủ yếu phải giải quyết trong thời gian tới của bệnh viện.

6.1. Nâng cao vai trò của Ban Giám đốc

Ban Giám đốc cần gương mẫu thực hiện dân chủ, lắng nghe ý kiến của nhân viên, phân công công việc công bằng, minh bạch và tăng cường kiểm tra, giám sát.

6.2. Phát huy trách nhiệm đoàn thể và thanh tra

Các đoàn thể quần chúng cần giám sát việc thực hiện dân chủ. Ban Thanh tra nhân dân kiểm tra việc thực hiện dân chủ liên quan đến quyền lợi của cán bộ, nhân viên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu một cuộc đấu tranh kiên quyết cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng dân chủ càng được thực hiện đầy đủ bao nhiêu thì cuộc đấu tranh mới ấy càng diễn ra sớm, rộng lớn, rõ rệt và kiên quyết bấy nhiêu”. Đấu tranh vì dân chủ tìm thấy khả năng và điều kiện tốt nhất ở cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội; đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội tìm thấy thuộc tính bản chất và động lực phát triển của nó ở cuộc đấu tranh vì dân chủ. Vì thế, “chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn”.

Và “Không có chế độ dân chủ thì chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được theo hai ý nghĩa sau đây: (1) giai cấp vô sản không thể hoàn thành được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu họ không được chuẩn bị cho cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ; (2) chủ nghĩa xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi của mình và sẽ không dẫn được nhân loại đi đến chỗ thủ tiêu nhà nước, nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ”. Thứ ba, hình thành quan điểm về dân chủ nhằm giải quyết những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nền dân chủ là một mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng vô sản. “Như chúng ta đã thấy trên kia, bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”.

Sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản thông qua nhà nước của mình để từng bước tổ chức cho toàn dân tham gia quản lý nhà nước một cách dân chủ. Những biện pháp chủ yếu nhất mà chế độ dân chủ của giai cấp vô sản sử dụng vào việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thể hiện ở những công việc như: hạn chế quyền tư hữu; dần dần tước đoạt ruộng đất, xí nghiệp, đường sắt, tàu thủy của địa chủ và tư sản, thực hiện cạnh tranh trong công nghiệp nhà nước; tịch thu tài sản của giai cấp bóc lột; tổ chức lao động 18 trong giai cấp vô sản; thủ tiêu sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau, trả tiền công bình đẳng cho người lao động; tất cả mọi người trong xã hội đều có nghĩa vụ lao động như nhau; tiến hành những cải tạo kinh tế và xã hội nhằm không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân lao động. Không đặc quyền, không áp chế, không bất công,. là những nguyên tắc của nền dân chủ vô sản.

Xây dựng nhà nước dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Khi giai cấp vô sản trở thành giai cấp làm chủ xã hội cũng là lúc bắt đầu xây dựng một kiểu nhà nước mới - nhà nước được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ, phương pháp dân chủ và phấn đấu vì mục tiêu dân chủ. Dân chủ phải được bảo đảm bằng hiến pháp và toàn bộ hệ thống pháp luật. “Toàn bộ quyền lực tối cao trong nước phải thuộc về các đại biểu của nhân dân, do nhân dân bầu ra, có thể bị nhân dân bãi miễn bất cứ lúc nào”.

Chỉ có thể gọi một cuộc bầu cử là dân chủ khi nào nó là phổ thông, trực tiếp và bình đẳng. Chỉ có những ủy ban nào do toàn dân bầu ra trên cơ sở quyền phổ thông đầu phiếu mới là những ủy ban dân chủ. Toàn bộ công việc quản lý nhà nước từ dưới lên đều do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng thực sự tham gia quản lý, chứ không dừng lại ở cơ quan đại diện và đại biểu đại diện. Quần chúng cần nắm vững nghệ thuật quản lý nhà nước và điều khiển toàn bộ chính quyền nhà nước.

Đồng thời, phải làm thế nào để quyền bãi miễn được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc; thực hiện quyền bãi miễn tức là thực hiện quyền dân chủ; từ chối không thực hiện quyền bãi miễn, trì hoãn thực hiện quyền đó, hạn chế quyền đó khi cần thiết đều là phản lại dân chủ. Phải bảo đảm dân chủ trong quá trình xét xử; sự tham gia của các đại biểu nhân dân trong việc xét xử là một nguyên tắc dân chủ; việc bầu cử các hội thẩm không đặt trước một điều kiện nào, không có bất cứ hạn chế nào đối với quyền bầu cử, như hạn chế về trình độ học vấn, thời gian cư trú,. 19 Chống quan liêu, hoàn toàn xây dựng chế độ dân chủ của nhân dân. Xây dựng chế độ dân chủ đi đôi với việc chống chế độ quan liêu từ những vấn đề có tính nguyên tắc, từ tổ chức bộ máy của nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội đến quan điểm, lập trường, thái độ, phong cách của cán bộ, viên chức.

Quan liêu là trái, là đối lập với dân chủ. “Chế độ dân chủ vô sản là chế độ sẽ thi hành ngay lập tức những biện pháp để chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hành những biện pháp ấy tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá hủy chế độ quan liêu, tới chỗ hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân”. Các biện pháp chủ yếu để chống chế độ quan liêu là: những nhân viên của nhà nước vô sản không chỉ được bầu ra mà còn có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào; lương của họ không cao hơn lương của công nhân; thi hành ngay những biện pháp khiến tất cả mọi người đều làm chức năng kiểm sát và giám thị, khiến tất cả mọi người đều tạm thời biến thành “quan liêu” và, do đó, khiến không một ai có thể trở thành kẻ quan liêu được. Thu hút sự tham gia thực sự của quần chúng vào xây dựng chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở; dựa vào sáng kiến của quần chúng để xây dựng và phát triển dân chủ.

Không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dân chủ là đủ; không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại biểu là đủ. “Cần phải xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước”. “Quần chúng càng chủ động, càng có nhiều ý kiến, càng mạnh dạn và càng có tinh thần sáng tạo khi tiến hành công việc đó thì lại càng tốt”. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ xã hội chủ nghĩa 1.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa 20 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những di sản tư tưởng bao trùm và xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đồng thời, đây cũng là tư tưởng có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay. Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh tầm nhìn bao quát, sâu rộng về giá trị phổ quát này, mà còn là tư tưởng để thực hành trong thực tiễn nhằm xây dựng chế độ dân chủ trên một đất nước vừa được giải phóng khỏi sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc cách đây 76 năm. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được phản ánh một cách chắt lọc, cô đọng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hành, biểu hiện ở ba vấn đề cốt lõi sau: Thứ nhất, khẳng định vai trò, địa vị của nhân dân trong chế độ chính trị dân chủ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Nó được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đồng thời, nó phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhân dân trong chế độ chính trị - xã hội nhất định. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Người tuyên bố dứt khoát: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Theo Người, ở nước ta, mọi quyền hành và lực lượng đều là của nhân dân, từ nhân dân mà ra.

Người nhấn mạnh rằng: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn 21 đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Như vậy, nội dung cơ bản và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị - xã hội, thể chế chính trị dân chủ phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân là người có quyền quyết định vận mệnh của quốc gia - dân tộc; nhân dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, củng cố và thực hành quyền lực của mình thông qua hệ thống chính trị và thể chế chính trị dân chủ, xây dựng và củng cố bộ máy quản lý nhà nước nhằm hướng tới phục vụ lợi ích của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Thứ hai, xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ