Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỈNH VĨNH PHÚC TRONG THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận về công tác tôn giáo và vai trò của hệ thống chính trị tỉnh Vĩnh Phúc trong thực hiện công tác tôn giáo 1. Quan niệm tôn giáo, công tác tôn giáo, hệ thống chính trị tỉnh Vĩnh Phúc * Quan niệm về tôn giáo Kế thừa các nghiên cứu về tôn giáo, đặc biệt là quan điểm của các nhà duy vật về tôn giáo, tác giả quan niệm tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trần thế. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng tôn giáo là hiện tượng xã hội ra đời từ thời kỳ nguyên thủy, để có nhận thức đúng về hiện tượng xã hội này là quá trình lịch sử lâu dài và đấu tranh gay go, phức tạp giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thần bí.
Khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, nhận thức về tôn giáo mới thực sự đúng đắn, khoa học, cách mạng, toàn diện và hiệu quả đối với tiến trình phát triển của xã hội loài người. Ở Việt Nam, về góc độ quản lý, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quan niệm: “Tôn giáo là niềm tin của con người, tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [46, tr. 11 Về quản lý hành chính nhà nước, theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo một tổ chức tôn giáo được công nhận khi có đủ các điều kiện sau: 1. Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 5 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; 2.
Có hiến chương theo quy định tại Điều 23 luật này; (Điều 23. Hiến chương của tổ chức tôn giáo Hiến chương của tổ chức tôn giáo có những nội dung cơ bản sau đây: 1. Tên gọi của tổ chức. Tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc, phạm vi hoạt động của tổ chức.
Trụ sở chính. Tài sản của tổ chức. Người đại diện theo pháp luật, mẫu con dấu của tổ chức. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.
Nhiệm vụ, quyền hạn của ban lãnh đạo tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, cách thức phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, cách chức, bãi nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc. Điều kiện, thẩm quyền, cách thức giải thể tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tôn giáo trực thuộc. Việc tổ chức hội nghị, đại hội; thể thức thông qua quyết định, sửa đổi, bổ sung điều lệ; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ của tổ chức.
Quan hệ giữa tổ chức tôn giáo với tổ chức tôn giáo trực thuộc, giữa tổ chức tôn giáo với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài). Người đại diện, người lãnh đạo tổ chức là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam, có năng lực, hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có 12 án tích hoặc không phải là người bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; 4. Có cơ cấu tổ chức theo Hiến chương; 5. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; 6.
Nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập” [46, tr. Trong đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. * Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo Theo chủ nghĩa Mác - Lênin tôn giáo là một hiện tượng tinh thần của xã hội và vì vậy, nó là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Nhưng khác với những hình thái ý thức xã hội khác, sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực là sự phản ánh đặc thù, đó là sự phản ánh “lộn ngược”, “hoang đường” thế giới khách quan.
Ăngghen, “tôn giáo là những sự rút hết toàn bộ nội dung của con người và giới tự nhiên, là việc chuyển nội dung đó sang cho bóng ma. Thượng đế ở bên kia thế giới, Thượng đế này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho con người và giới tự nhiên một chút ân huệ của mình” [38, tr. Với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, tôn giáo là sự phản ánh một cách biến dạng, sai lệch, hư ảo về giới tự nhiên và con người, về các quan hệ xã hội. Hay nói cách khác, tôn giáo là sự nhân cách hoá giới tự nhiên, là sự “đánh mất bản chất người”.
Chính con người đã khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên khác với bản chất của mình để rồi từ đó con người có chỗ dựa, được chở che, an ủi - dù đó chỉ là chỗ dựa “hư ảo”. Chỉ ra bản chất sâu xa của hiện tượng đó, Ph. Ăngghen đã viết: “Con người vẫn chưa hiểu rằng họ đã nghiêng mình trước bản chất của chính mình và đã thần thánh hoá nó như một bản chất xa lạ nào đó” [38, tr. Lột tả bản chất của tôn giáo, ông cho rằng, “tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi 13 phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [40, tr.
Trong Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [38, tr. Luận điểm trên của C.Mác đã thể hiện rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng của tôn giáo trên lập trường duy vật lịch sử.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vòng hoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng và điểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện thực.
Vì, trong cuộc sống hiện thực, khi con người bất lực trước tự nhiên, bất lực trước các hiện tượng áp bức, bất công của xã hội thì họ chỉ còn biết “thở dài” và âm thầm, nhẫn nhục chịu đựng. Cũng trong cuộc sống hiện thực ấy, họ không thể tìm thấy “một trái tim” để yêu thương, che chở nên phải tìm đến một “trái tim” trong tưởng tượng nơi tôn giáo. Trái tim đó sẽ sẵn sàng bao dung, tha thứ, chở che và tiếp thêm sức mạnh cho họ để họ có thể vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Với luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, C.Mác không chỉ muốn khẳng định tính chất “ru ngủ” hay độc hại của tôn giáo, mà còn nhấn mạnh đến sự tồn tại tất yếu của tôn giáo với tư cách một thứ thuốc giảm đau được dùng để xoa dịu những nỗi đau trần thế.
Thực vậy, người ta dùng thuốc giảm đau khi người ta bị đau đớn và chừng nào còn đau đớn, thì chừng đó còn có nhu cầu dùng nó. Đó chính là lý do để lý giải tại sao người ta hướng tới, hy vọng và coi tôn giáo như chiếc “phao cứu sinh” cho cuộc sống của mình, cho dù đó chỉ là những hạnh phúc ảo tưởng, chỉ là “sự đền bù hư ảo”. Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, tôn giáo mặc dù là sự phản ánh hoang đường, hư ảo hiện thực, là một hiện tượng xã hội có ảnh hưởng tiêu cực đến xã 14 hội nhưng nó không phải không có những yếu tố tích cực. Tôn giáo chỉ là những “bông hoa giả” tô điểm cho một cuộc sống hiện thực đầy xiềng xích.
Nhưng nếu không có những “bông hoa giả” ấy thì cuộc sống của con người chỉ còn lại “xiềng xích” mà thôi. Và nếu không có thứ “thuốc giảm đau” ấy thì con người sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầy rẫy những áp bức, bất công và bạo lực. * Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo, giải quyết vấn đề tôn giáo Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên hệ thống quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng rất phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo, góp phần to lớn vào thắng lợi của CTTG nói riêng và sự nghiệp cách mạng nói chung. Quan điểm đó được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau: Một là, xem xét vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng một cách toàn diện, trên quan điểm lịch sử cụ thể.
Tôn giáo và tín ngưỡng được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét dưới góc độ văn hóa, triết học và đạo đức. Đối với tôn giáo, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” [41, tr. Hai là, luôn thể hiện sự tôn trọng đối với những người sáng lập ra các tôn giáo, đánh giá cao vai trò và sự hy sinh, đóng góp của các bậc “chí tôn”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng, khâm phục tinh thần hy sinh cao cả của những người sáng lập ra Phật giáo, Kitô giáo. Người nói: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [42, tr. Ba là, khẳng định sự tồn tại của tôn giáo là một tất yếu lịch sử, luôn đồng hành cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.