Tổng quan về luận án
Trong cấu trúc quyền lực chính trị và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trên mặt trận văn hóa, văn nghệ giữ vị trí chiến lược sống còn. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước (mã số 9310202) với đề tài "Nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ văn nghệ sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Vinh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Mai Đức Ngọc và TS. Lê Văn Hội tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2024), đại diện cho một công trình khoa học tiên phong tiếp cận toàn diện vấn đề bản lĩnh chính trị (BLCT) của giới văn nghệ sĩ quân đội dưới lăng kính lý luận xây dựng Đảng.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tiễn chuyển đổi phương thức tác chiến tư tưởng trong kỷ nguyên số: mặc dù các văn kiện của Đảng và Quân ủy Trung ương—đặc biệt là Chỉ thị số 355-CT/QUTW ngày 24/7/2017 và Kết luận số 1172-KL/QUTW ngày 16/6/2022—liên tục nhấn mạnh yêu cầu: "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, văn nghệ sĩ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên môn giỏi, trách nhiệm cao, luôn tâm huyết với sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của Đảng, của Quân đội", chưa có bất kỳ công trình nào hệ thống hóa cấu trúc lý luận và mô hình đánh giá thực nghiệm chuẩn mực về BLCT của đội ngũ "chiến sĩ - nghệ sĩ" trong môi trường quân sự hiện đại.
Các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được thiết kế mạch lạc:
- RQ1: Bản chất, cấu trúc và tiêu chí đánh giá BLCT của văn nghệ sĩ quân đội gồm những nhân tố nào? (Giả thuyết H1: BLCT là chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa tri thức chính trị Mác - Lênin, lập trường tư tưởng kiên định, đạo đức cách mạng và năng lực chuyển hóa tư tưởng vào thực hành nghệ thuật).
- RQ2: Thực trạng công tác lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện BLCT giai đoạn 2018–2023 bộc lộ những mâu thuẫn và điểm nghẽn nào? (Giả thuyết H2: Sự xung đột giữa tự do sáng tạo cá nhân với tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh quân sự cùng tác động của cơ chế thị trường đang tạo ra hiện tượng suy giảm bản lĩnh và "nhạt màu áo lính").
- RQ3: Hệ giải pháp nào bảo đảm nâng cao bền vững BLCT của văn nghệ sĩ đến năm 2035? (Giả thuyết H3: Mô hình tích hợp giáo dục lý luận, kiểm soát thiết chế, môi trường thử thách thực tiễn và cơ chế tự rèn luyện sẽ tối ưu hóa BLCT).
Nghiên cứu khảo sát trên tổng thể 12.144 thiết chế văn hóa quân đội với quy mô 3.292 văn nghệ sĩ toàn quân trong giai đoạn 2018–2023, xác lập khung dự báo và giải pháp có giá trị ứng dụng chiến lược đến năm 2035.
Literature Review và Positioning
Tổng quan nghiên cứu quốc tế phản ánh hai dòng chảy học thuật chủ lưu về mối quan hệ giữa chính trị, quân đội và thực hành nghệ thuật. Nhóm nghiên cứu thuộc các nước xã hội chủ nghĩa và quân đội chuyển đổi tập trung vào tính đảng và sự phục tùng chính trị tuyệt đối: Phon Chay Khăm Bun My (2011), Son Xay Chan Nha Lat (2013), Seng Thoong Unnang (2016) khi phân tích Quân đội nhân dân Lào đã định vị giáo dục chính trị tư tưởng là trục xương sống duy trì bản chất giai cấp công nhân. Tại Trung Quốc, Luu Minh Phuc (2020) và Zhang Yi, Xu Jun, Li Longyi, Zhu Ri (2022) phân tích học thuyết Tập Cận Bình về xây dựng quân đội đẳng cấp thế giới, chỉ rõ lòng trung thành tuyệt đối và bản lĩnh kiên định là linh hồn của lực lượng vũ trang hiện đại. Nhóm tác giả Nga như Natalia Ivanovna Kursevich (2019) và Bykova Polina Anatolyevna (2019) nghiên cứu cơ chế tâm lý và quy luật hình thành bản lĩnh biểu diễn chuyên nghiệp, khẳng định bản lĩnh nghệ thuật không thể tách rời việc bồi dưỡng lý tưởng xã hội. Ngược lại, các học giả phương Tây như William Deresiewicz (2020) tiếp cận văn nghệ sĩ từ xã hội học kinh tế, phản ánh áp lực thương mại hóa làm xói mòn tính liêm chính nghệ thuật, hoặc Chika Okeke-Agulu (2015) phân tích nghệ thuật hậu thuộc địa Nigeria trong mối quan hệ với chủ nghĩa dân tộc và giải thực hóa tư tưởng.
KHÔNG GIAN HỌC THUẬT QUỐC TẾ & TRONG NƯỚC
[DÒNG CHẢY QUỐC TẾ] [DÒNG CHẢY TRONG NƯỚC]
1. Hệ tư tưởng & Quân sự XHCN 1. Xây dựng Quân đội về chính trị
- Phon Chay Khăm Bun My (2011) - Nguyễn Mạnh Hưởng (2011)
- Son Xay Chan Nha Lat (2013) - Lương Cường (2019)
- Seng Thoong Unnang (2016) - Ngô Xuân Lịch (2019, 2020)
- Luu Minh Phuc (2020); Zhang Yi et al. (2022) - Nguyễn Trọng Nghĩa (2019)
2. Tâm lý học nghệ thuật & Xã hội học văn hóa 2. Bản lĩnh chính trị & Văn nghệ quân đội
- Kursevich (2019); Bykova Polina (2019) - Tăng Bình, Thu Huyền, Ái Phương (2013)
- Deresiewicz (2020); Okeke-Agulu (2015) - Đinh Xuân Dũng (2016, 2018)
- Nguyễn Phú Trọng (2021); Nguyễn Thế Kỷ (2023)
Trong nước, các công trình về xây dựng Đảng và nhân tố chính trị - tinh thần quân đội như của Nguyễn Mạnh Hưởng (2011), Lê Hữu Nghĩa (2016), Đinh Xuân Dũng (2016, 2018), Lương Cường (2019), Ngô Xuân Lịch (2019, 2020), Nguyễn Trọng Nghĩa (2019) đã đặt nền móng lý luận vững chắc về phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ". Các nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa, báo chí quân sự của Lưu Thị Phương Thảo (2014), Nguyễn Đức Trịnh (2014), Nguyễn Xuân Thủy (2020), Phạm Phương Oanh (2022), Nguyễn Thế Kỷ (2023), Nguyễn Thị Triều (2023) đã phân tích các lát cắt đơn lẻ về quản lý đoàn văn công, đào tạo văn nghệ hay đấu tranh chống "diễn biến hòa bình".
Tuy nhiên, các công trình trước đây tồn tại hai khoảng trống đối lập: hoặc khái quát hóa BLCT cán bộ, chiến sĩ chung chung mà bỏ qua đặc thù tâm lý sáng tạo tự do của văn nghệ sĩ, hoặc đi sâu vào kỹ thuật biểu diễn và tác phẩm nghệ thuật thuần túy mà thiếu chiều sâu lý luận chuyên ngành Xây dựng Đảng. Luận án của Nguyễn Thành Vinh đã định vị chính xác điểm giao thoa này, giải quyết đồng thời bài toán lý luận và thực nghiệm quản trị chính trị đối với giới văn nghệ sĩ lực lượng vũ trang.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án làm phong phú và phát triển lý luận Xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng thông qua việc mở rộng lý thuyết quyền bá quyền văn hóa (Cultural Hegemony) của Antonio Gramsci và lý thuyết trường văn hóa (Field Theory) của Pierre Bourdieu trong bối cảnh quân đội cách mạng. Nghiên cứu xác lập khái niệm chuẩn xác: BLCT của văn nghệ sĩ quân đội là phẩm chất chính trị tổng hợp, biểu hiện ở sự giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có ý chí, nghị lực vượt qua mọi cám dỗ, khó khăn, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; biểu hiện sinh động qua các tác phẩm, công trình nghệ thuật và hành vi ứng xử của người "chiến sĩ - nghệ sĩ".
CẤU TRÚC ĐA TẦNG CỦA BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ VĂN NGHỆ SĨ QUÂN ĐỘI
Mô hình lý thuyết 4 tầng của luận án mở rộng luận điểm của Tăng Bình, Thu Huyền, Ái Phương (2013) rằng: "Bản lĩnh chính trị là có tư duy khoa học, tự quyết định một cách độc lập hành động của mình, không vì áp lực bên ngoài mà thay đổi quan điểm...", đồng thời tạo ra bước chuyển dịch mô hình (paradigm shift) từ quản lý hành chính nghệ thuật sang phát triển nội lực chính trị tự giác của văn nghệ sĩ.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp biện chứng ba hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Lý luận hình thái kinh tế - xã hội và kiến trúc thượng tầng của Chủ nghĩa Mác - Lênin (văn hóa nghệ thuật là bộ phận cấu thành trận địa tư tưởng).
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về "văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và "văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy".
- Lý thuyết thể chế chính trị và kiểm soát quyền lực của Đảng ủy Quân sự Trung ương (Quân ủy Trung ương) đối với các cơ quan tư tưởng - văn hóa.
Khung phân tích này thiết lập điều kiện biên (boundary conditions) chặt chẽ: áp dụng chuyên biệt cho văn nghệ sĩ thuộc biên chế lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, nơi các chuẩn mực tự do sáng tạo nghệ thuật bị ràng buộc tất yếu bởi nguyên tắc tập trung dân chủ, bí mật quân sự và kỷ luật quân đội "tự giác, nghiêm minh".
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án được triển khai trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp trường phái hiện thực phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) phối hợp phương pháp định tính và định lượng (mixed methods), kết nối logic giữa phân tích vĩ mô (chủ trương, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị) với thực nghiệm vi mô (hành vi, tâm lý, sáng tác của từng cá nhân nghệ sĩ).
SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
[CẤP ĐỘ VĨ MÔ & THỂ CHẾ] [CẤP ĐỘ VI MÔ & THỰC THỂ]
- Phân tích văn bản thể chế, nghị quyết (Chỉ thị 355, KL 1172) - Điều tra bảng hỏi 3.292 văn nghệ sĩ
- Rà soát 12.144 thiết chế văn hóa toàn quân - Phỏng vấn sâu lãnh đạo, nghệ sĩ ưu tú, NSND
- Phương pháp Lịch sử - Lôgíc - Thống kê đối chiếu, mã hóa dữ liệu (SPSS/NVivo)
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu bảo đảm tính nghiêm ngặt học thuật cao:
- Chiến lược chọn mẫu: Mẫu phân tầng đại diện toàn diện 3 nhóm chức năng thuộc 12.144 thiết chế văn hóa quân đội:
- Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý và giảng viên văn hóa nghệ thuật (chiếm 25% tổng số; bao gồm 174 giảng viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội với 100% là đảng viên, 90,8% trình độ sau đại học, 15 Nhà giáo Ưu tú, 16 Tiến sĩ, 10 Nghệ sĩ Nhân dân, 16 Nghệ sĩ Ưu tú).
- Nhóm cán bộ, nhân viên trực tiếp sáng tác, sáng tạo (chiếm 35%; biên chế tại Tạp chí Quốc phòng toàn dân [59 người], Tạp chí Văn nghệ Quân đội [62 người], Báo Quân đội nhân dân [60 người], Điện ảnh Quân đội nhân dân [56 người], Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội [68 người]).
- Nhóm nghệ sĩ biểu diễn, nhân viên kỹ thuật và văn hóa cơ sở (chiếm 40%; gồm 1.226 nghệ sĩ tại 03 nhà hát [Nhà hát Ca, Múa, Nhạc Quân đội: 145 người; Nhà hát Chèo Quân đội: 112 người; Nhà hát Kịch nói Quân đội: 98 người] và 10 đoàn văn công quân khu, quân chủng, Bộ đội Biên phòng; 437 cán bộ tại 26 bảo tàng; 1.629 nhân viên tại 31 nhà văn hóa cấp quân khu/quân chủng, 110 câu lạc bộ cấp sư đoàn, 19 câu lạc bộ quân nhân, 484 thư viện với 751 nhân viên, 141 đội chiếu phim với 273 nhân viên, 148 nhà truyền thống, 489 phòng truyền thống và 3.095 phòng Hồ Chí Minh).
- Quy trình tam giác hóa (Triangulation): Kết hợp đối chiếu chéo giữa dữ liệu lưu trữ hành chính của Tổng cục Chính trị [123], kết quả khảo sát bảng hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 5 điểm và phỏng vấn sâu trực tiếp các chuyên gia đầu ngành, chỉ huy nhà hát và tác giả văn nghệ quân đội.
Data và phân tích
Dữ liệu khảo sát định lượng được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS, dữ liệu định tính được phân tích cấu trúc chủ đề qua NVivo. Các chỉ số đo lường độ tin cậy thang đo đều đạt hệ số Cronbach’s alpha $\alpha > 0.85$, độ giá trị hội tụ (convergent validity) và giá trị phân biệt (discriminant validity) được khẳng định qua phân tích nhân tố khám phá (EFA). Các kiểm định độ vững (robustness checks) giữa các nhóm đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp và khối báo chí - xuất bản cho thấy tính nhất quán cao về các chỉ số đánh giá BLCT.
Phát hiện đột phá và implications
CƠ CẤU NHÂN SỰ VÀ THỰC TRẠNG PHÂN HÓA BẢN LĨNH
Những phát hiện then chốt
- Sự chi phối tuyệt đối của nhân tố chính trị - tinh thần: 100% các đơn vị duy trì vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng; tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, sẵn sàng cống hiến nơi biên giới, hải đảo, khẳng định đúng nhận định của Đinh Xuân Dũng (2018): "Sản phẩm đẹp nhất, độc đáo nhất của công tác tư tưởng, văn hóa chính là góp phần trực tiếp nuôi dưỡng, đào tạo và xây dựng các thế hệ những người chiến sĩ cách mạng của Đảng, của dân tộc và nhân dân... “Bộ đội Cụ Hồ”".
- Hiện tượng phân hóa bản lĩnh dưới áp lực kinh tế thị trường: Nghiên cứu chỉ ra một phát hiện phản trực giác (counter-intuitive): mặc dù được tôi luyện trong môi trường chính quy, sự bùng nổ của truyền thông số và kinh tế thị trường nghệ thuật đã tạo ra nguy cơ suy thoái cục bộ. Báo cáo thực trạng chỉ rõ: "cá biệt có văn nghệ sĩ có biểu hiện lệch chuẩn, tư tưởng “nhạt màu áo lính”, không tha thiết với đề tài “Lực lượng vũ trang - Chiến tranh cách mạng”, chưa bám sát đời sống bộ đội để phản ánh" [Tổng cục Chính trị, tr. 104].
- Mâu thuẫn cơ cấu trong nhóm cán bộ quản lý văn nghệ: Có tới 25% quân số văn nghệ sĩ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, song một bộ phận cán bộ chủ trì chuyên môn xuất thân từ nghệ sĩ biểu diễn lại thiếu kiến thức chuyên sâu về công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT), dẫn đến lúng túng trong xử lý các diễn biến tư tưởng phức tạp của cấp dưới.
- Hiệu suất đào tạo và chuyển giao thế hệ tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội: Với quy mô đào tạo 1.155 học viên, sinh viên từ năm 2020 đến nay dưới sự dìu dắt của 174 cán bộ, giảng viên (trong đó 90,8% có trình độ sau đại học), đơn vị đóng vai trò "cái nôi" quyết định chất lượng nguồn nhân lực kế cận, nhưng đang đối mặt với thách thức giữ chân nhân tài trước sự cạnh tranh thu nhập từ khu vực nghệ thuật tư nhân ngoài quân đội.
Implications đa chiều
HỆ THỐNG 6 NHÓM GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ ĐẾN NĂM 2035
(*) Các giải pháp mang tính đột phá mới do Luận án đề xuất.
- Về mặt lý luận: Luận án bổ sung vào hệ thống lý luận Xây dựng Đảng nguyên tắc tích hợp giữa tính giai cấp của văn nghệ cách mạng với quy luật đặc thù của lao động nghệ thuật.
- Về mặt phương pháp luận: Thiết lập quy trình đánh giá BLCT định lượng hóa, có khả năng chuyển giao áp dụng cho lực lượng văn nghệ sĩ Công an nhân dân hoặc các hội văn học nghệ thuật địa phương.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Đề xuất trực tiếp cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng 06 nhóm giải pháp khoa học, trong đó nổi bật 3 giải pháp đột phá mới:
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên làm công tác giáo dục nâng cao BLCT cho văn nghệ sĩ.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng nhằm nâng cao BLCT của văn nghệ sĩ.
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh gắn với việc đưa đội ngũ văn nghệ sĩ vào những điều kiện hoạt động có nhiều khó khăn, thử thách (huấn luyện dã ngoại, biên giới, hải đảo) để trui rèn bản lĩnh.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:
- Phạm vi khảo sát thời gian: Tập trung sâu vào giai đoạn 2018–2023, do đó các biến động mới về công nghệ trí tuệ nhân tạo (Generative AI) tác động đến sáng tạo văn nghệ quân đội chưa được lượng hóa đầy đủ.
- Rào cản bảo mật quân sự: Một số dữ liệu về công tác nhân sự và các chuyên án bảo vệ chính trị nội bộ trong quân đội không thể công bố chi tiết, phải xử lý qua các chỉ số phái sinh gián tiếp.
- Độ mở rộng đối tượng: Luận án tập trung vào lực lượng văn nghệ sĩ chính quy trong biên chế Bộ Quốc phòng mà chưa bao quát hết đội ngũ văn nghệ sĩ không chuyên (hạt nhân văn nghệ) tại các phân đội cơ sở.
Chương trình nghiên cứu tương lai cần mở rộng:
- Đánh giá tác động của công nghệ số và không gian mạng đối với bản lĩnh chính trị của văn nghệ sĩ quân sự.
- Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (cross-national comparative study) giữa Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Quân đội nhân dân Lào về cơ chế kiểm soát tư tưởng trong nghệ thuật quân sự.
- Xây dựng mô hình toán học dự báo rủi ro "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong giới nghệ sĩ biểu diễn.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động học thuật sâu sắc, ước tính cung cấp nguồn trích dẫn quan trọng cho các công trình nghiên cứu về Xây dựng Đảng, Khoa học Chính trị và Quản lý Văn hóa Quân sự tại Việt Nam.
Về mặt thể chế và chính sách, kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị trong việc tham mưu ban hành các quy chế, hướng dẫn quản lý hoạt động của 3 nhà hát, 10 đoàn văn công, hệ thống 26 bảo tàng và 484 thư viện toàn quân. Về mặt xã hội, công trình góp phần chuẩn hóa nhân cách người "nghệ sĩ - chiến sĩ", bảo đảm các sản phẩm nghệ thuật quân đội duy trì vai trò dẫn dắt thẩm mỹ và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng, Triết học, Văn hóa học: Tiếp cận hệ thống dữ liệu thực chứng độc quyền về 12.144 thiết chế văn hóa quân sự và khung phân tích BLCT chuẩn mực.
- Lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan báo chí, xuất bản, điện ảnh, đoàn nghệ thuật Quân đội: Có bộ tiêu chí và giải pháp cụ thể để quản lý tư tưởng, ngăn ngừa hiện tượng "nhạt màu áo lính".
- Cơ quan tham mưu chiến lược (Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương): Sở hữu cơ sở khoa học để hoạch định chính sách phát triển văn hóa văn nghệ gắn với chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng lý luận Xây dựng Đảng bằng việc định nghĩa và cấu trúc hóa thành công khái niệm "Bản lĩnh chính trị của đội ngũ văn nghệ sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam" thành một mô hình 4 tầng tích hợp: Tri thức chính trị Mác - Lênin $\rightarrow$ Lập trường niềm tin $\rightarrow$ Ý chí kỷ luật tự giác $\rightarrow$ Năng lực sáng tạo thực hành nghệ thuật đề tài chiến tranh cách mạng.
2. Tính đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với các nghiên cứu của Phon Chay Khăm Bun My (2011) hay Lê Hữu Nghĩa (2016) vốn thiên về diễn dịch lý luận thuần túy, luận án của Nguyễn Thành Vinh kết hợp tam giác hóa phương pháp: phân tích thể chế vĩ mô với khảo sát thực nghiệm toàn diện trên 3.292 văn nghệ sĩ thuộc 12.144 thiết chế văn hóa quân đội, lượng hóa mức độ tự giác chính trị của từng phân nhóm đối tượng.
3. Phát hiện thực nghiệm gây bất ngờ nhất được hỗ trợ bởi dữ liệu?
Đó là nghịch lý về năng lực quản trị chính trị trong nhóm 25% cán bộ lãnh đạo, quản lý văn nghệ: phần lớn có trình độ chuyên môn nghệ thuật rất cao nhưng lại thiếu kỹ năng tiến hành CTĐ, CTCT, dẫn đến lỗ hổng trong việc phát hiện sớm và xử lý các biểu hiện "tự diễn biến", "nhạt màu áo lính" ở cấp cơ sở.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp (replication protocol) không?
Có. Luận án xây dựng quy trình khảo sát 5 bước chuẩn hóa, bảng hỏi cấu trúc và hệ tiêu chí đánh giá BLCT rõ ràng, hoàn toàn có thể tái lặp để nghiên cứu đối với lực lượng văn nghệ sĩ Công an nhân dân hoặc các đơn vị nghệ thuật công lập ngoài quân đội.
5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tới (đến năm 2035)?
Tập trung nghiên cứu cơ chế bảo vệ chủ quyền tư tưởng văn hóa trên không gian mạng; đánh giá tác động của công nghệ giải trí số và trí tuệ nhân tạo đối với bản lĩnh sáng tạo của nghệ sĩ quân đội; hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp mà không làm suy giảm bản chất chính trị cách mạng.
Kết luận
- Xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm và 4 chức năng cốt lõi của BLCT văn nghệ sĩ quân đội trong kỷ nguyên mới.
- Tổng kết và phân tích toàn diện bộ dữ liệu thực trạng giai đoạn 2018–2023 trên 3.292 văn nghệ sĩ thuộc 12.144 thiết chế văn hóa toàn quân.
- Chỉ rõ các nguyên nhân khách quan, chủ quan và đúc rút 04 bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tư tưởng văn nghệ.
- Đề xuất hệ thống 06 giải pháp khoa học, đồng bộ với 03 giải pháp đột phá mới có giá trị ứng dụng thực tiễn đến năm 2035.
- Luận án khẳng định bước tiến mô hình trong khoa học Xây dựng Đảng: chuyển từ quản trị hành chính mệnh lệnh sang xây dựng năng lực tự đề kháng và bản lĩnh chính trị tự giác của người "chiến sĩ - nghệ sĩ" phụng sự Tổ quốc và nhân dân.