Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình tiêu biểu nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Công trình tiêu biểu nghiên cứu về tôn giáo và hoạt động tôn giáo Lâm Tĩnh (1999), Vấn đề Tôn giáo Trung Quốc trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội [142]. Tác giả đã khẳng định, sự đan xen, trộn lẫn giữa vấn đề tôn giáo và vấn đề dân tộc làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng nổi rõ.
Từ đó, tác giả đưa ra vấn đề có tính nguyên tắc khi giải quyết vấn đề tôn giáo trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: Cần phải tỉnh táo thấy rằng, mở cửa với bên ngoài càng rộng thì sức truyền giáo của tôn giáo nước ngoài đối với Trung Quốc tất nhiên sẽ tăng lên, đặc biệt là các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng tôn giáo để tăng cường các hoạt động chính trị chống lại Trung Quốc ngày càng mạnh… Tác giả khẳng định: “Họ đã dùng cương vị là lãnh tụ tôn giáo hoặc danh phận là tín đồ tôn giáo để tạo nên cờ hiệu bảo vệ lợi ích dân tộc, tổ chức các hoạt động chính trị phản động để làm tăng thêm sự đan xen hòa trộn khăng khít vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo” [142, tr. Tác giả khẳng định: “Nhà nước bảo vệ các hoạt động tôn giáo bình thường. Không ai được lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hoạt động gây rối trật tự công cộng, gây tổn hại đến sức khỏe của công dân, hoặc can thiệp vào hệ thống giáo dục của Nhà nước” [155, tr. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng khẳng định quan điểm nhất quán của nhà nước Trung Quốc là kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo, hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật: “Không ai được phép phá hoại trật tự xã hội, làm hại đến sức khỏe của các công dân Trung Quốc hoặc can thiệp vào hệ thống giáo dục dưới chiêu bài tôn giáo.
Việc bỏ tù một số tín đồ tôn giáo là do họ đã tiến hành các hoạt động phi pháp dưới chiêu bài tôn giáo. Các hoạt động của họ vượt quá khuôn khổ được Hiến pháp, pháp luật cho phép và vi phạm Luật hình sự” [155, tr. Cuốn sách đã phân tích thành phần tôn giáo, vai trò của các tổ chức tôn giáo trong xã hội, tính tự đồng nhất tôn giáo, sự hợp thức hóa các quan hệ nhà nước với giáo phái. Từ đó, rút ra những mâu thuẫn, xung đột giữa các tôn giáo và hướng giải quyết của nhà nước trong chiến lược phát triển vững chắc của nước Nga hiện nay.
Cuốn sách đã trình bày về mối quan hệ giữa những nguyên tắc đạo đức của đạo Tin Lành và “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản, nói rộng ra, đó là quan hệ giữa tôn giáo và nền tảng cấu trúc của một hình thái xã hội chứ không phải chỉ là một hình thái kinh tế. Dẫu rằng, so với thời điểm Weber viết cuốn sách, cả đạo Tin Lành và Chủ nghĩa tư bản đều đã có những thay đổi nhưng đó vẫn là những thực thể mà dù lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa chúng ta vẫn phải đối diện và “chung sống”. Thế nên, từ cuốn sách của Weber, có thể tìm thấy những ý tưởng đáng để chúng ta suy nghĩ về chính thời hiện tại. Trác Tấn Bình (2007), Lý giải tôn giáo [19].
Cuốn sách đã làm nổi bật quan mối quan hệ gắn bó giữa tôn giáo với đời sống xã hội hiện thực của nhân loại. Theo tác giả, mỗi dân tộc khi đi tìm con đường phát triển bao giờ cũng tìm về ngọn nguồn giá trị của dân tộc, khơi dậy sức mạnh tinh thần, thiêng liêng tiềm tàng ẩn chứa trong bản sắc văn hóa dân tộc, mà cái ngọn nguồn ấy thường lại chính là từ thế giới tinh thần tâm linh tôn giáo. Mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng riêng của mình, giữa những cái tín ngưỡng khác nhau ấy, trong thời đại hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay, cái quan trọng là có thái độ khoan dung cầu đồng tồn dị để giao lưu và đối thoại. Yến Khải Giai (2007), Giáo hội Công giáo Trung Quốc [68].
Cuốn sách đã mang đến những thông tin quan trọng trong bối cảnh xây dựng giáo hội trong lòng đất nước Trung Quốc XHCN, đó là một giáo hội Công giáo tam tự (độc lập, tự chủ, tự biện). Hàng giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Công giáo Trung Quốc đã nhấn mạnh: Nguyên tắc tam tự là tinh thần Giáo hội chúng ta; giáo sĩ và tín hữu Trung Quốc là nhân chứng chúa Giêsu; sự hiểu biết mới 12 thay vì vâng phục mù quáng,… sự vâng phục Giáo hoàng chỉ là về học thuyết và giáo lý. Bằng cách đó, Giáo hội có thể tự quản, tự dưỡng, tự truyền. Từ đó, Giáo hội Công giáo Trung Quốc đã đi theo con đường vừa yêu Giáo hội, vừa yêu đất nước.
Giáo hội phát triển tốt trong đất nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa. Hơn nửa thế kỷ làm mục vụ, từ khi ra đời nước Trung Quốc mới tới nay, đã chứng minh Giáo hội có Chúa Thánh Linh không những có thể tồn tại trong chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn có thể phát triển và gia tăng một cách lành mạnh. Tác giả đã trình bày những nét cơ bản về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo. Mọi người có quyền tự do lựa chọn và noi theo tín ngưỡng riêng của mình và được quyền thể hiện thân phận tôn giáo một cách minh bạch, công khai.
Tôn giáo không được can dự vào công việc hành chính, tư pháp,… của nhà nước; chính quyền nhà nước cũng không được phép can dự vào công việc nội bộ của tôn giáo, không được cổ súy hay cấm đoán hoạt động đối với bất kỳ tôn giáo nào đang hoạt động trên lãnh thổ Trung Quốc. Tôn giáo cần phải có hiến pháp, luật pháp và chính sách quy định cụ thể phạm vi hoạt động. Công dân đồng thời cũng có quyền tự do đối với tín ngưỡng tôn giáo, không thể lợi dụng tôn giáo để làm hại đến quốc gia, xã hội và các hoạt động của cá thể. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đoàn thể tôn giáo.
Các tôn giáo đều bình đẳng. Lewis Hopfe và Mark Woodward (2014), Các tôn giáo trên thế giới [73]. Bằng quan điểm duy vật lịch sử, cuốn sách đã vẽ ra bức tranh toàn cảnh các tôn giáo trên thế giới hiện đại trong sự vận động khôn lường của các tôn giáo với nhau nói riêng và với thế giới nói chung. Cuốn sách chỉ đề cập đến những tôn giáo đang hoạt động và còn tồn tại đến ngày nay.
Đối với mỗi tôn giáo, nội dung sách lần lượt tìm hiểu bốn điểm chính yếu: Nền văn hóa sản sinh, người sáng lập, kinh sách thiêng liêng và quá trình phát triển. Cuốn sách là một công trình biên soạn công phu, khoa học, tập hợp rất nhiều tư liệu, hình ảnh có giá trị với cách trình bày và đánh giá khách quan, nghiêm túc. Các tác giả đã giới thiệu đến người đọc một cách nhìn tổng quan suốt một chặng đường lịch sử hình thành tín ngưỡng, niềm tin cho đời sống tinh thần của nhân loại.Cole Durham và G. Cuốn sách tiếp cận theo lối luật pháp so sánh từ cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Đồng thời cuốn sách này có những kết quả nghiên cứu khá đặc biệt từ hai giáo sư W.Cole Durham và G.Scharffs Brett, đã tổng hợp và kế thừa kết quả nghiên cứu của nhiều trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành, các hội thảo quốc tế trong nhiều năm, diễn ra trên 20 nước mà những dữ kiện được sử dụng. Vì thế, cuốn sách chứa đựng yếu tố quốc tế rất cao, hết sức thuận tiện và đầy sức gợi mở cho nghiên cứu. Cuốn sách này tập hợp được một khối lượng tư liệu chọn lọc về các vụ việc liên quan đến tôn giáo, ở nhiều nước Âu - Mỹ, Đông Nam Á, Đông Bắc Á cho đến các nước Ả rập Hồi giáo Trung Cận Đông. Công trình tiêu biểu nghiên cứu về hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng ở các nước Chiêm Chân Vinh (1995), Những bài học về giải quyết vấn đề tôn giáo trong nước của Đảng Cộng sản các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây [157].
Tác giả đã khẳng định: Đảng Cộng sản cầm quyền cần phải nhận thức và có chính sách đối với tôn giáo, cảnh giác với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để tiến hành thâm nhập về chính trị, kiên trì quan điểm nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề quan hệ giữa Đảng Cộng sản, Nhà nước XHCN đối với tôn giáo. Tác giả đã phân tích và rút ra các bài học kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của các Đảng Cộng sản: Coi tôn giáo là một hình thái ý thức còn tồn tại lâu dài; giải quyết vấn đề tôn giáo luôn gắn với vấn đề giai cấp; vấn đề tôn giáo luôn gắn với vấn đề dân tộc; tôn giáo có tính chất quốc tế và bị các thế lực chống cộng lợi dụng; kiên trì quan điểm, nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cuốn sách đã đề cập đến vấn về tôn giáo và hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, coi đó là yếu tố tác động đến an ninh quốc gia Trung quốc. Tác giả chỉ rõ: “Vấn đề tôn giáo có liên quan đến vấn đề 14 dân tộc, các dân tộc khác nhau thường có tôn giáo khác nhau, đằng sau nhiều mâu thuẫn dân tộc, chủ nghĩa ly khai dân tộc đều có bóng dáng của tôn giáo.
Nhiều thế lực cực đoan chia rẽ đất nước, gây rối loạn thường lợi dụng tôn giáo, kích động tâm lý tín, bằng nhiều phương thức gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia” [3, tr. Cuốn sách cũng khẳng định, một số nước lớn lợi dụng vấn đề tôn giáo để lấy cớ can thiệt vào công việc nội bộ của các nước khác. Chỉ ra rằng, giải quyết tôn giáo là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, khó khăn, nhất là khi các TLTĐ can thiệp vào. Luận án đã khái quát hoạt động của các TLTĐ lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia và thực trạng công tác đấu tranh với hoạt động đó ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào từ năm 2001 đến 2010; những tác hại do hoạt động lợi dụng tôn giáo của các TLTĐ gây ra cho cách mạng Lào.