Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Tuyên tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng (bảo vệ năm 2021). Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, mã số 922 90 08, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lưu Ngọc Khải và TS Nguyễn Văn Quang.

Về tính cấp thiết, văn bản chỉ rõ tôn giáo là hiện tượng xã hội tồn tại khách quan và lâu dài. Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo. Vùng Tây Bắc là địa bàn núi cao hiểm trở, giữ vị trí chiến lược trọng yếu về quốc phòng - an ninh nhưng kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn khó khăn, dân trí không đồng đều. Lợi dụng những đặc thù này và thiếu sót trong quản lý của cấp ủy, chính quyền cơ sở, các thế lực thù địch đã chọn vấn đề dân tộc, tôn giáo làm mũi nhọn chống phá, kích động tư tưởng ly khai nhằm lập "Vương quốc Mông tự trị". Bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn. Tuy nhiên, việc thực hiện vai trò này thời gian qua vẫn còn bộc lộ những bất cập, hiệu quả chưa đồng đều trước diễn biến phức tạp của tình hình tôn giáo và tà đạo.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học về vai trò, thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của riêng lực lượng bộ đội địa phương trên địa bàn chiến lược 5 tỉnh Tây Bắc.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các yêu cầu và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của lực lượng này trong giai đoạn hiện nay.

Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản nghiên cứu về vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam.
  3. Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết.
  4. Đề xuất một số yêu cầu và giải pháp chủ yếu phát huy vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu: Vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn Tây Bắc; vai trò và thực tiễn thực hiện vai trò của bộ đội địa phương trong cuộc đấu tranh này.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát địa bàn 5 tỉnh gồm Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai và Yên Bái.
  • Phạm vi thời gian: Khai thác, khảo sát dữ liệu từ năm 2003 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (tính từ thời điểm ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan ở cả trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung cụ thể:

Nhóm nghiên cứu quốc tế:

  • Về tôn giáo và quản lý tôn giáo: Lâm Tĩnh (1999) trong "Vấn đề Tôn giáo Trung Quốc trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội" phân tích sự đan xen giữa tôn giáo và dân tộc, cảnh báo nguy cơ thế lực bên ngoài lợi dụng tôn giáo để can thiệp chính trị. Trác Tấn Bình (2007) với "Lý giải tôn giáo" nhấn mạnh thái độ khoan dung, đối thoại văn hóa. Yến Khải Giai (2007) trong "Giáo hội Công giáo Trung Quốc" phân tích nguyên tắc "tam tự" (tự quản, tự dưỡng, tự truyền) của giáo hội trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, luận án điểm lại công trình kinh điển của Max Weber về đạo đức Tin Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản; công trình của Lewis Hopfe và Mark Woodward (2014) về lịch sử các tôn giáo thế giới; công trình nghiên cứu luật pháp so sánh về tôn giáo của W. Cole Durham và G. Scharffs Brett.
  • Về thủ đoạn lợi dụng tôn giáo: Chiêm Chân Vinh (1995) đúc kết các bài học giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng Cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu. Vương Bân và Xướng Hữu Hùng (2013) phân định khái niệm tà giáo với tôn giáo hoạt động bất hợp pháp, vạch trần thủ đoạn pha trộn tín điều để lừa dối quần chúng. Hà Hồ Sinh và Lý Hiểu Vũ (2013) tổng kết kinh nghiệm chống lợi dụng tôn giáo của Trung Quốc, chỉ ra quy luật chuyển đổi tư tưởng nhằm mục đích phi tôn giáo.

Nhóm nghiên cứu trong nước:

  • Về âm mưu lợi dụng tôn giáo: Nguyễn Hữu Khiển (chủ biên, 2011) nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo; Nguyễn Minh Khải (chủ biên, 2013) làm rõ âm mưu đẩy tín đồ vào thế đối lập với chính quyền; Trần Đắc Hiên (2007) và Nguyễn Huy Động (2016) phân tích thủ đoạn kết hợp vấn đề dân tộc với tôn giáo và hình thức liên tôn nhằm tạo ngọn cờ chống đối tại các địa bàn khó khăn.
  • Về vai trò của quân đội: Lê Đại Nghĩa (2011) nghiên cứu tác động của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân; tài liệu của Tổng cục Chính trị (2013) về công tác chính trị của Bộ đội Biên phòng; Tạ Việt Hùng (chủ biên, 2016) khẳng định quân đội là lực lượng quan trọng trong vận động quần chúng và tham gia xây dựng cơ sở chính trị; tài liệu của Cục Dân vận - Tổng cục Chính trị (2017) khái quát biện pháp dân vận vùng giáo; Nguyễn Như Trúc (2007) và Lê Đức Nhẫn (2016) khảo sát hoạt động vận động và đấu tranh của lực lượng vũ trang tại Tây Nguyên.
  • Về địa bàn Tây Bắc: Đặng Vũ Liêm (2002) nghiên cứu công tác vận động quần chúng của Bộ đội Biên phòng chống truyền đạo trái phép; Thào Xuân Sùng (2009) nghiên cứu tín ngưỡng của đồng bào Mông ở Sơn La; Trần Hữu Sâm (2004) làm rõ thủ đoạn truyền bá "Tin Lành Vàng Chứ"; Nguyễn Trường Sơn (2009) phân tích vai trò bộ đội địa phương xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; Nguyễn Xuân Bách (2015) nghiên cứu Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vùng biên Tây Bắc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết bao gồm:

  1. Nhận diện rõ nét đặc thù của âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo tại Tây Bắc (đặc biệt là mối liên hệ giữa dân tộc Mông và việc truyền đạo Tin Lành trái pháp luật) so với các vùng chiến lược khác.
  2. Xây dựng khung lý luận, quan niệm, nội dung và các nhân tố quy định việc thực hiện vai trò của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc dưới góc độ triết học chính trị - xã hội và Chủ nghĩa xã hội khoa học.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng phát huy vai trò của bộ đội địa phương tại 5 tỉnh Tây Bắc từ năm 2003 đến nay dựa trên hệ thống văn kiện, báo cáo tổng kết và dữ liệu khảo sát thực tế.
  4. Xác định các yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ đội địa phương trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử); tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và đại đoàn kết dân tộc; các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác quân sự, quốc phòng địa phương (trọng tâm là Nghị quyết số 25/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX và văn kiện Đại hội XIII); quy định pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án tiếp cận vấn đề theo định hướng nghiên cứu chính trị - xã hội, kết hợp các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp lôgíc kết hợp phương pháp lịch sử nhằm phân tích tiến trình du nhập, biến đổi của tôn giáo và hoạt động của bộ đội địa phương.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch để xây dựng hệ thống khái niệm, quan niệm và nội dung vai trò.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống và so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn và các địa bàn nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia nhằm thu thập, đánh giá ý kiến phản hồi từ cán bộ, chiến sĩ và các cơ quan chức năng trên địa bàn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Hệ thống văn kiện lãnh đạo, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo sơ kết và tổng kết công tác tôn giáo, công tác dân vận của Quân khu 2 và Bộ Chỉ huy quân sự 5 tỉnh Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái) từ năm 2003 đến năm 2021.
  • Dữ liệu địa lý, dân số, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc được trích dẫn từ các tài liệu thống kê chính thức.
  • Kết quả điều tra, khảo sát thực tế do tác giả trực tiếp thực hiện tại các đơn vị quân sự địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương này trình bày chi tiết kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu về tôn giáo, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch tại Việt Nam và vai trò của lực lượng vũ trang. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các thành tựu lý luận đã đạt được của các học giả đi trước, đồng thời xác lập 4 vấn đề trọng tâm mà đề tài cần tập trung luận giải để lấp đầy khoảng trống khoa học.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam

Chương 2 làm rõ bối cảnh địa bàn, bản chất âm mưu chống phá và xây dựng hệ thống lý luận về vai trò của bộ đội địa phương.

Về đặc điểm khu vực Tây Bắc: Đây là địa bàn miền núi phía Tây Bắc Bộ, có vị trí chiến lược xung yếu về quốc phòng - an ninh.

Tiêu chí Số liệu và đặc điểm cụ thể theo văn bản
Đường biên giới quốc gia Có chung đường biên giới 612 km với Lào và 512 km với Trung Quốc
Địa hình Rừng núi cao hiểm trở chiếm trên 75% diện tích; dãy Hoàng Liên Sơn cao 1500 m, dài 180 km, rộng 30 km, có đỉnh trên 3000 m
Dân số và cơ cấu dân tộc 5 tỉnh (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái) có khoảng 3 triệu người, gồm 34 dân tộc; dân tộc thiểu số chiếm 63%
Mật độ dân số Trung bình 85 người/km²; vùng sâu, vùng xa, biên giới chỉ đạt 9 - 12 người/km²
Hiện trạng kinh tế - xã hội Thu nhập bình quân thấp nhất, tỷ lệ đói nghèo cao nhất cả nước; còn tình trạng du canh, di cư tự do; tồn tại các bản "trắng" đảng viên
Tình hình tôn giáo Có 3 tôn giáo được công nhận (Công giáo, Phật giáo, Tin Lành); xuất hiện các tà đạo, đạo lạ: Dương Văn Mình, Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Thanh Hải Vô Thượng Sư, Long Hoa Di Lặc, Tiên Rồng

Về âm mưu và thủ đoạn của thế lực thù địch: Văn bản phân tích 5 thủ đoạn chủ yếu:

  1. Kết hợp chặt chẽ vấn đề dân tộc với tôn giáo, trọng tâm là gắn dân tộc Mông với đạo Tin Lành nhằm kích động tư tưởng ly khai, thành lập "Vương quốc Mông tự trị".
  2. Khai thác triệt để những khó khăn về kinh tế, đời sống văn hóa nghèo nàn, trình độ dân trí thấp và "khoảng trống tâm linh", khoảng trống tư tưởng chính trị để truyền đạo trái pháp luật.
  3. Móc nối, nhận chỉ đạo và tài trợ từ bên ngoài; sử dụng hệ thống truyền thông của đài FEBC phát sóng 2 lần/ngày bằng các thứ tiếng Mông, Dao, Thái, Kinh; đưa người về cơ sở số 2 Ngõ Trạm (Hà Nội) để huấn luyện; lợi dụng vụ việc tụ tập đông người ở Mường Nhé (Điện Biên) tháng 5/2011.
  4. Lợi dụng yếu tố tâm lý truyền thống, lịch sử xưng vua và tín ngưỡng Saman giáo của người Mông; thực hiện thủ đoạn "Mông hóa" tên gọi đức chúa trời thành "Vàng Chứ" (dựa trên nghĩa Vương Chủ) để đánh đồng niềm tin tôn giáo với việc tôn sùng vị vua huyền thoại.
  5. Lợi dụng tà đạo (nhất là tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình hình thành từ 1995, núp bóng các tên gọi đạo chim én, đạo con cóc, đạo con ve sầu), hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và con đường du lịch ("Tây ba lô") để xâm nhập bản làng truyền đạo trái phép.

Về quan niệm và tổ chức của bộ đội địa phương: Bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc là bộ phận quan trọng của lực lượng vũ trang Quân khu 2 và Quân đội nhân dân Việt Nam. Về mặt tổ chức, cấp tỉnh có Bộ chỉ huy quân sự tỉnh gồm các phòng chức năng (tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật), trường quân sự, mỗi tỉnh biên giới có một trung đoàn thiếu và các đại đội đủ quân; riêng Điện Biên có Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379, Sơn La có Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 326. Cấp huyện có ban chỉ huy quân sự huyện (gồm các ban tham mưu, chính trị, hậu cần - kỹ thuật) và các tiểu đoàn khung thường trực.

Chương 3: Vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra

Nội dung chương tập trung phản ánh thực tiễn giai đoạn từ năm 2003 đến nay:

  • Đánh giá thực trạng: Lực lượng bộ đội địa phương đã phát huy tốt chức năng "đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất". Đơn vị đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo công tác tôn giáo; bám nắm cơ sở, tuyên truyền vận động đồng bào chấp hành chủ trương, đường lối; trực tiếp tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, giúp xóa bỏ các bản "trắng" đảng viên; hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, định canh định cư; phối hợp với Công an, Bộ đội Biên phòng phát hiện, ngăn chặn truyền đạo trái phép và xử lý các điểm nóng an ninh trật tự (tiêu biểu như vụ gây rối năm 2011 tại Mường Nhé).
  • Hạn chế và nguyên nhân: Nhận thức về âm mưu lợi dụng tôn giáo của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn chưa sâu sắc; năng lực công tác dân vận, hiểu biết về phong tục tập quán và tiếng nói đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; công tác nắm tình hình ở vùng sâu, vùng xa có thời điểm chưa kịp thời; cơ chế phối hợp xử lý một số vụ việc cụ thể còn lúng túng.
  • Những vấn đề đặt ra: Cần giải quyết hài hòa giữa việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của quần chúng với việc kiên quyết xử lý hành vi lợi dụng tôn giáo; xử lý khoảng trống tư tưởng chính trị tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số di cư; nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng bộ đội địa phương trong điều kiện địa bàn rộng lớn, hiểm trở.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp chủ yếu phát huy vai trò bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định các định hướng và biện pháp thực hiện:

  • Các yêu cầu có tính nguyên tắc: Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với lực lượng vũ trang; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn cụ thể.
  • Hệ thống 5 nhóm giải pháp chủ yếu:
    1. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn cho cán bộ, chiến sĩ bộ đội địa phương về công tác tôn giáo và thủ đoạn chống phá của kẻ thù.
    2. Nâng cao năng lực tham mưu của cơ quan quân sự các cấp cho cấp ủy, chính quyền địa phương; củng cố, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc tại vùng đồng bào tôn giáo.
    3. Đổi mới nội dung, hình thức công tác vận động quần chúng; tích cực tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xóa bản "trắng" đảng viên, giúp dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa.
    4. Hoàn thiện quy chế phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội địa phương với Công an, Bộ đội Biên phòng và các ban ngành, đoàn thể trong nắm tình hình và giải quyết dứt điểm các điểm nóng tôn giáo.
    5. Chăm lo xây dựng tổ chức đảng, xây dựng cơ quan quân sự địa phương vững mạnh toàn diện; bảo đảm đầy đủ chế độ, chính sách và phương tiện kỹ thuật cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ ở các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã xây dựng quan niệm khoa học và hệ thống hóa nội dung vai trò của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo dưới góc độ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học.
  • Luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, tâm lý tộc người (đặc biệt là dân tộc Mông) với các thủ đoạn lợi dụng đức tin tôn giáo, hiện tượng xưng vua, tà đạo để chống phá cách mạng.

Về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh trung thực thực trạng phát huy vai trò của bộ đội địa phương tại 5 tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn 2003 - 2021; chỉ rõ những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân thực tế.
  • Đề xuất hệ thống các yêu cầu và 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cụ thể, phục vụ trực tiếp cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và cấp ủy, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tế tại 5 tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 2 (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái) với khung thời gian từ 2003 đến 2021; chưa mở rộng so sánh chuyên sâu với các địa bàn vùng cao, biên giới có đặc thù tôn giáo tương đồng như vùng Tây Nguyên hay Tây Nam Bộ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở là tiếp tục đi sâu theo dõi sự biến đổi của các hiện tượng tôn giáo mới phát sinh, các hình thức hoạt động lợi dụng không gian mạng và các thiết bị công nghệ số để tuyên truyền tà đạo, kích động tư tưởng ly khai trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Bộ Chỉ huy quân sự và Ban Chỉ huy quân sự các huyện thuộc 5 tỉnh Tây Bắc trong việc xây dựng phương án tác chiến, kế hoạch dân vận vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo.

Nội dung công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và lý luận tham khảo cho cấp ủy, chính quyền các địa phương vùng Tây Bắc trong quản lý nhà nước về tôn giáo, giải quyết các vụ việc khiếu kiện đất đai tôn giáo hoặc hoạt động truyền đạo trái phép.

Bên cạnh đó, luận án có giá trị làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về công tác tôn giáo, công tác dân vận và quốc phòng - an ninh tại các học viện, nhà trường quân đội cũng như các cơ sở đào tạo lý luận chính trị trong cả nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Những tôn giáo hợp pháp và các hiện tượng tà đạo nào đang hoạt động trên địa bàn Tây Bắc theo phản ánh của luận án? Khu vực Tây Bắc có 3 tôn giáo được Nhà nước công nhận là Công giáo, Phật giáo và Tin Lành. Bên cạnh đó, địa bàn xuất hiện nhiều tà đạo, đạo lạ và tổ chức bất hợp pháp gồm: Dương Văn Mình, Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Thanh Hải Vô Thượng Sư, Long Hoa Di Lặc, Tiên Rồng.

2. Thủ đoạn "Mông hóa" tên gọi đức chúa trời thành "Vàng Chứ" được các thế lực thù địch thực hiện nhằm mục đích gì? Các đối tượng dựa vào từ "Vangx" (nghĩa là Vương) và "Trưr" (nghĩa là Chủ) để tạo nên danh xưng "Vương Chủ" (vua), rồi đồng nhất tên gọi này với Chúa trời trong đạo Tin Lành. Thủ đoạn này lợi dụng tâm lý chờ đợi một vị thủ lĩnh cứu giúp của người Mông nhằm đánh đồng niềm tin tôn giáo với ước vọng xưng vua, từ đó lôi kéo đồng bào theo đạo và phục vụ mưu đồ thành lập "Vương quốc Mông tự trị".

3. Bản chất của "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình" được luận án xác định như thế nào? Tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình xuất hiện từ năm 1995 (kế tiếp hiện tượng xưng vua đón chúa giai đoạn 1989 - 1990), là tổ chức chính trị phản động đội lốt tôn giáo, mang nặng yếu tố mê tín dị đoan (với các biểu tượng chim én, con cóc, ve sầu). Bản chất của tổ chức này là kích động người dân chia rẽ khối đại đoàn kết, tạo dựng ngọn cờ ly khai để thành lập "Vương quốc Mông tự trị".

4. Phương thức tuyên truyền xuyên biên giới của thế lực thù địch vào Tây Bắc diễn ra qua những kênh nào? Các thế lực thù địch sử dụng chương trình phát thanh của đài FEBC phát sóng đều đặn ngày 2 lần bằng tiếng Mông, Dao, Thái, Kinh; đưa người về cơ sở tôn giáo tại số 2 Ngõ Trạm (Hà Nội) để huấn luyện; tài trợ tiền của qua đường du lịch ("Tây ba lô") và lợi dụng danh nghĩa các tổ chức phi chính phủ (NGO) làm từ thiện để truyền đạo trái phép.

5. Cơ cấu tổ chức của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc gồm những thành phần nào? Lực lượng gồm: Cơ quan quân sự cấp tỉnh (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; trường quân sự; trung đoàn thiếu ở biên giới; các đại đội đủ quân; riêng Điện Biên có Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 379, Sơn La có Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 326) và cơ quan quân sự cấp huyện (Ban Chỉ huy quân sự huyện có các ban trực thuộc và tiểu đoàn khung thường trực).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trung Tuyên đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Bắc trong đấu tranh với âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Tác giả đã vạch rõ các đặc trưng địa bàn, phương thức lợi dụng tôn giáo tinh vi gắn liền với vấn đề dân tộc Mông và các hiện tượng tà đạo tại 5 tỉnh Tây Bắc từ năm 2003 đến năm 2021. Trên cơ sở đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế trong thực tiễn, luận án đã xác định hệ thống yêu cầu cùng 5 nhóm giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của bộ đội địa phương. Công trình là tài liệu khoa học có ý nghĩa lý luận và giá trị ứng dụng thiết thực cho các cơ quan quân sự và chính quyền địa phương trong công tác tôn giáo và quốc phòng - an ninh hiện nay.