Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến luận án 1. Nhóm công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu liên quan đến ý thức chính trị và ý thức chính trị xã hội chủ nghĩa Trương Quốc Chính (1995), “Ý thức chính trị trong xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa qua các bản Hiến pháp” [7]. Tác giả bài viết đã chỉ rõ, trong sự tác động qua lại giữa các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, ý thức chính trị (YTCT) và ý thức pháp quyền với tư cách là các quan điểm chính trị, pháp quyền có tác động và ảnh hưởng rất quan trọng đến việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của nhà nước.
Vai trò của YTCT trong tổ chức, xây dựng và hoạt động nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu hiện tập trung ở các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, và Hiến pháp 1992 sửa đổi. Bài viết đã luận giải các vấn đề quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; ý thức về thực hiện và phát huy quyền dân chủ của nhân dân; ý thức về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước. Tác giả nhấn mạnh “nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” [7, tr. Tác giả đã nghiên cứu, phân tích, khái quát toàn diện về sự phát triển YTCT xã hội chủ nghĩa, là một loại hình đặc thù của YTCT nói chung, có bản chất, đặc điểm vai trò riêng, khác hẳn về chất so với YTCT trong các chế độ xã hội khác; về sự cần thiết phải xác lập YTCT xã hội chủ nghĩa với tư cách là hạt nhân của hệ tư tưởng.
Vai trò của YTCT xã hội chủ nghĩa trong định hướng về chính trị cho quá trình phát triển và hoàn thiện tồn tại xã hội - xã hội chủ nghĩa, nó có nguồn gốc từ phong trào đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, được chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, chỉ lối nhằm chống lại ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản. 11 Lương Minh Cừ (2003), “Một số ý kiến về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên hiện nay” [8]. Tác giả đã làm rõ với những diễn biến mau lẹ tình hình thế giới ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, việc học tập, nắm bắt thời cuộc nếu không nhanh nhạy sinh viên sẽ mất phương hướng, dao động trước những biến đổi của xã hội, dẫn đến bi quan, thiếu tự tin vào bản thân. Giáo dục, bồi dưỡng YTCT cho sinh viên có tri thức, có sức khỏe và lao động sáng tạo; có ý thức trách nhiệm công dân; sống có văn hóa và nghĩa tình; có lòng tự hào dân tộc, yêu nước nồng nàn và tinh thần quốc tế trong sáng.
Vì vậy, mỗi sinh viên cần tự xây dựng YTCT cho mình, tự hình thành giá trị nhân cách để đáp ứng yêu cầu xây dựng YTCT, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phan Thanh Khôi (2003). Ý thức chính trị của giai cấp công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay [41]. Tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề về giai cấp công nhân nói chung và đội ngũ công nhân ở Hà Nội nói riêng; những biểu hiện về YTCT của họ; những quan điểm và giải pháp để nâng cao YTCT cho đội ngũ này.
Tác giả đã luận giải, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến YTCT. Tác giả đã mở rộng cách xem xét về YTCT. Theo đó, YTCT là thái độ đối với các thể chế chính trị lớn (nhà nước, đảng phái.); là nhận thức về những vấn đề chính trị quan trọng (chế độ chính trị, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật); là sự nhận thức về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân nói chung, công nhân trong một số doanh nghiệp nói riêng với tính cách là một giai cấp trong mối quan hệ với các giai cấp, tầng lớp cơ bản và toàn thể dân tộc nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển, duy trì và bảo vệ một chế độ chính trị - xã hội của một đất nước. Trên cơ sở nghiên cứu, phát hiện những yêu cầu đặt ra trong phát triển YTCT cho sinh viên dân sự các trường học viện quân sự, cùng phân tích những biến động của tình hình kịnh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức xã hội trong nước và quốc tế.
Những nhân tố này đã làm cho định hướng 12 giá trị của xã hội có những xáo trộn, biến động nhất định. Đó là sự tăng lên của các nhân tố thực dụng; coi nhẹ công tác chính trị - tư tưởng trong sinh viên; “sinh viên thờ ơ về chính trị do quan tâm đến lợi ích kinh tế hơn, có tâm lý bỏ bê các môn khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là lý luận Mác - Lênin” [34, tr. Vì vậy, việc giáo dục, phát triển YTCT xã hội chủ nghĩa cho sinh viên dân sự các trường học viện quân sự là hết sức cần thiết, để họ thực sự trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Học viện Chính trị công an nhân dân (2015), Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng Công an nhân dân hiện nay [35].
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân ở cuốn sách được luận giải giữ vai trò rất quan trọng. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự trong giai đoạn cách mạng mới là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với lực lượng công an nhân dân. Nhóm tác giả chỉ ra nội dung công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong công an nhân dân, đi sâu luận giải làm rõ những cơ sở lý luận về giáo dục chính trị, tư tưởng, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần xây dựng ý thức, bản lĩnh chính trị của lực lượng công an nhân dân. Phạm Đình Khuê (2016), Ý thức chính trị của sinh viên nước ta hiện nay - thực trạng và những vấn đề đạt ra [40].
Theo tác giả luận án, YTCT của sinh viên nước ta hiện nay là sự hiểu biết về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn về truyền thống dân tộc, thái độ đối với sự nghiệp đổi mới, quan tâm đến vấn đề chính trị; ở sự hiểu biết nhu cầu và các lợi ích chính trị. Tác giả luận án đã chỉ rõ, luận giải các phương thức thể hiện YTCT của sinh viên Việt Nam. Dương Thị Thanh Xuân (2017), Ý thức chính trị của giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam [105]. Tác giả đã luận giải và xây dựng quan niệm về YTCT, một bộ phận của ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp.
Ý thức chính trị là hệ thống quan điểm, lý luận, thái độ của một giai cấp về địa vị lịch sử, nhiệm vụ chính trị chiến lược, sách lược của giai cấp mình trong tiến trình phát triển của lịch sử. Theo tác giả cuốn sách, YTCT có chức năng nhận thức và chức 13 năng thực tiễn. YTCT xuất phát từ hiện thực của đời sống chính trị và quay lại để cải tạo chính đời sống chính trị đó. Trần Thanh Giang (2017), “Tăng cường giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay” [23].
Bài viết đã đưa ra quan niệm và cấu trúc của YTCT. Theo đó, YTCT bao gồm: ý thức về quyền dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ, sự giàu mạnh của đất nước; ý thức về thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, về chiến lược phát triển đất nước; ý thức về quyền lợi, nghĩa vụ công dân được thể hiện trong cuộc sống học tập, lao động và hoạt động chính trị - xã hội. Bài viết cho rằng, giáo dục YTCT cho sinh viên Việt Nam hiện nay là quá trình tác động, truyền đạt và lĩnh hội, vận dụng sang tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm củng cố vững chắc thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, phương pháp tư duy biện chứng và phương pháp hành động khoa học cho sinh viên. Khái quát kết quả đạt được cũng như hạn chế trong việc giáo dục YTCT cho sinh viên trong thời gian qua cũng như những nguyên nhân của nó, tác giả đề xuất một số giải pháp tăng cường giáo dục YTCT cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Luận án đã phân tích, làm rõ thực chất và đặc điểm của phát triển YTCT của sinh viên dân sự các nhà trường quân đội trong điều kiện biến đổi kinh tế - xã hội ở nước ta. Đánh giá thực trạng, dự báo nhân tố tác động và những mâu thuẫn cần giải quyết và đề xuất các giải pháp phát triển YTCT của sinh viên dân sự các nhà trường quân đội trong điều kiện biến đổi kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Trong đó, đội ngũ giảng viên các môn Mác - Lênin có vai trò quan trọng đặc biệt đối với quá trình giáo dục, phát triển YTCT của sinh viên dân sự các nhà trường quân đội. Vì vậy, “cần quan tâm xây dựng lực lượng giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng.
Việc xây dựng lực lượng giảng viên cần thỏa mãn các điều kiện vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa đáp ứng yêu cầu lâu dài” [5, tr. Cuốn sách đã nghiên cứu, khái quát một số vấn đề về con người chính trị; phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan tác động; đánh giá khái quát thực trạng con người chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; đề xuất quan điểm quan điểm và giải pháp xây dựng con người chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Theo tác giả, xây dựng con người chính trị trong giai đoạn hiện nay phải chú ý đến tính đồng bộ, tính toàn diện, đồng thời phải có trọng tâm, trọng điểm; “phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, gắn với nhiệm vụ chính trị của đất nước và thông qua phong trào cách mạng của quần chúng [73, tr.