Chương I Điều 5 Mục 3, ghỉ tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Thứ tư, dân tộc có chung một nền văn hóa và tâm lý. Văn hóa là một khái nệm mang nội hàm rộng với nhiêu cách hiệu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tỉnh thần của con nguoi. Văn hóa là những biểu hiện cơ bán của con người trong quá trình dau tranh sinh ton va phat trién, đồng thời văn hóa cũng là những hoạt động nhận thức thực tiễn nhằm tạo ra những biến đổi của xã hội, của môi trường xung quanh và bản thân con người.
Văn hóa là sản phẩm có tính cộng đồng sau đó được triển khai thành một sản phẩm có tính cá nhân với tư cách là một thành viên của cộng đồng. Văn hóa tác động 8 theo ba qua trinh: qua trinh cai tao vat chat, qua trinh cai tao co cầu xã hột, quá trình cải tạo tâm lý xã hội (quan hệ giữa con người với con người). Văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất và tỉnh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử và là tông thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tang và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc, giúp người đân giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán trong quá trình phát triển. Xét về bản chất, nó không chỉ thé hiện tỉnh thần, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc mà còn là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với các dân tộc khác.
Văn hóa dân tộc gắn bó chặt chẽ với văn hóa của các cộng đồng tộc người trong một quốc gia. Văn hóa là một yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo của riêng mình. Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên của dân tộc thuộc những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó.
Cá nhân hoặc nhóm người nào từ chối những giá trị văn hóa dân tộc thì họ đã tự mình tách khỏi cộng đồng dân tộc. Văn hóa của một dân tộc không thê phát triển nêu không giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác. Tuy nhiên, trong giao lưu văn hóa, các dân tộc luôn có ý thức bảo tồn và phát triển bản sắc của mình, tránh nguy cơ đồng hóa về văn hóa. Chính vì thế, có thê nói văn hóa của dân tộc là yếu tố mang sức mạnh tỉnh thân giúp dân tộc vượt qua những thử thách và khó khăn, trở ngại trong quá trình đấu tranh và giảnh lại sự hòa bình cho mỗi dân tộc.
Mỗi một dân tộc đều có những nét văn hóa khác biệt và độc đáo được thể hiện rõ rảng qua những đặc trưng như cách thức tư duy, lối sống, lý tưởng thâm mỹ. Đây là một cách thức đề từng bước hiện thực hóa thế giới quan, nhân sinh quan mang đậm bản sắc văn hóa đân tộc trong đời sống xã hội. Ngoài những cách thức tư duy, lối sống thì văn hóa của một dân tộc còn được thê hiện qua những khía cạnh về ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán, lễ nghỉ, kiến trúc, kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian. Đây là những biểu hiện vô cùng phong phú và đa dạng của văn hóa trong đời sống và xã hội, một mặt phản ánh sự tiếp noi của lịch sử dân tộc, mặc khác là cái hiện hữu cụ thé của đời sống dân tộc đang được diễn ra.
Van hóa dân tộc đều đại diện cho sự khác biệt, độc đáo và đặc sắc của mỗi một nên dân tộc trên thế giới. Chính vì thế, những nét văn hóa đặc trưng ấy là một yếu tô quan trọng góp phân tạo nên một bức tranh đây màu sắc rực rỡ cho nền văn minh của nhân loại. Hiện nay, việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tỉnh hoa ấy đã và đang được nhiều quốc gia dân tộc coi trọng và thậm chí còn có những giải pháp cụ thé trong quá trình phát triển những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Một trong những tô chức lớn với nhiệm vụ bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc có thê kế đến như tô chức Giáo dục — Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO).
Bên cạnh đó, còn những cách bảo vệ những bản sắc văn hóa khác như thường xuyên đôi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ. Tận dụng tối đa những ưu thế của công nghệ thông tin để tuyên truyền, giới thiệu và quảng bá những nét đẹp văn hóa của dân tộc. dân tộc có chung một nhà nước (nhà nước đứn tộc). Nhà nước dân tộc (state-nation) là thuật ngữ xuất hiện trong nền chính trị phương Tây.
Khái niệm nhà nước dân tộc được hiểu là hình thái nhà nước hậu Trung cô ở châu Âu, sau hòa ước Westphalia (1648), khi mà quyên lực nhà nước tách ra khỏi quyền lực của Giáo hội, nó là quyên lực tối cao trong phạm vi lãnh thô mà nó quản lý. Những tiêu chí cơ bản là nên tảng của hình thái nhà nước dân tộc là: Mỗi nhà nước dân tộc, trước hết là một quốc gia có lãnh thô xác định. Mỗi lãnh thô quốc gia được cai quản bởi một nhà nước có bộ máy chính quyền nhất thể từ trung ương đến địa phương. Chính quyền trung ương có quyền lực tối cao, với tư cách đại diện hợp pháp và duy nhất cho chủ quyền quốc gia.
Trong khuôn khô lãnh thô quốc gia, mỗi cá nhân là một công dân bình đẳng trước pháp luật. Hình thành ý thức về quyền công dân, ý niệm về xã hội công dân. Các thành viên cũng như các cộng đồng người trong một dân tộc đều chịu sự quản lý, điều khiển của một nhà nước độc lập. Đây là yếu tố phân biệt dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người.
Dân tộc - tộc người trong một số quốc gia không có nhà nước với thê chế chính trị riêng. Hình thức tổ chức, tính chất của nhà nước do chế độ chính trị của dân tộc quyết định. Nhà nước là đặc trưng cho thê chế chính tri của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia dân tộc khác trên thé giới. Các đặc trưng cơ bản nói trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thé, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định.
Các đặc trưng ấy có quan hệ nhân quả, tác động qua lại, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và độc đáo trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, tạo nên tính ôn định, bền vững của cộng đồng dân tộc. Vấn đề sự hình thành nhà nước dân tộc ở Việt Nam Trên dải đất hôm nay là nước Việt Nam chúng ta vốn đã có các tộc người sinh sống từ nhiều ngàn năm. Các tộc người ấy liên kết thành dân tộc từ bao giờ và nước Việt Nam hình thành như thế nào là vấn đề còn có nhiều kiến giải khác nhau. Cộng đồng dân tộc gắn liền với cộng đồng quốc gia, là một cộng đồng dân tộc - quốc gia, nghĩa là phải có một bộ máy chính quyền nhà nước, phải khăng định quyền tự quyết dân tộc, quyền tự chủ quốc gia thông qua người đại điện hợp pháp duy nhất là nhà nước, một nhà nước trung tương có quyền lực tuyệt đối trên toàn bộ lãnh thỗ của mình.
Nhà nước dân tộc và văn hóa dân tộc ở Việt Nam không phải được hình thành tiệm tiễn trong phương thức sản xuất châu Á. Hàng ngàn năm Bắc thuộc, quá trình tiếp biến văn hóa Hán lâu dài đã đem lại những đổi mới toàn diện và sâu sắc trong xã hội và văn hóa Việt Nam. Sự hình thành nhà nước dân tộc và văn hóa dân tộc Đại Việt là bước phát triển đột biến, kết quả của quá trình giao lưu tiếp biến này. Theo nghĩa hẹp: Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnic) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng dân tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa.
Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tổ tộc người của các cộng đồng đó. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phân của quốc gia. Chăng hạn, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc tức 54 cộng đồng tộc người. Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hóa, lỗi sống, tâm lý, ý thức tộc người.
Liên quan đến ngành Dân tộc học, đến chính sách dân tộc của Đảng cảm quyền và Nhà nước, đó là quan hệ trên hai phạm vi: Quan hệ giữa các tộc người 11 trong một địa phương, khu vực của từng quốc gia, ví dụ: quan hệ giữa người Kinh với người Tày, người Kinh với người Chăm, giữa người Mông và người Thái và quan hệ nội bộ tộc người hay giữa các nhóm địa phương của một tộc người, như quan hệ giữa các nhóm Dao, giữa các nhóm Nùng với nhau. Dân tốc - tốc người có một số đặc trưng cơ bản squ: Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói). Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vẫn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển dân tộc người vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ sử mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp.
Ở Việt Nam, có 8 hệ ngôn ngữ được sử đụng đề giao tiếp: Nhóm sử dụng ngôn ngữ Việt Mường (4 dân tộc); Nhóm sử dụng ngôn ngữ Tày Thái (§ dân tộc); Nhóm ngôn ngữ Mông — Dao (3 dân tộc); Nhóm ngôn ngữ Ka Đai (4 dân tộc); Nhóm ngôn ngữ Tạng Miễn (6 dân tộc); Nhóm ngôn ngữ Môn Khơ Me (21 dân tộc); Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo (5 dân tộc); Nhóm ngôn ngữ Hán (3 dân tộc). Cộng đồng về văn hóa. Văn hóa bao gồm văn hóa vật thê và phi vat thể ở mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc người đó. Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ.