đặt vấn đề làm thế nào để thiết lập cơ chế thúc đẩy các nhà xuất bản không ngừng nâng cao chất lượng xuất bản phẩm, đặt lợi ích xã hội lên hàng đầu và thực hiện các lợi ích kinh tế. Đứng trên phương diện xã 16 hội, tác giả cho rằng hiệu quả xuất bản đề cập đến hành vi xuất bản có thể phản ánh đúng giá trị tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mang lại vai trò xây dựng trình độ nhận thức tốt và hướng dẫn tích cực cho quần chúng, làm phong phú thêm thế giới tinh thần của quần chúng nhân dân. Luôn đặt lợi ích xã hội lên hàng đầu trong phát triển các chủ trương văn hóa và công nghiệp văn hóa là sự vận dụng sáng tạo quy luật kiến trúc thượng tầng thích ứng với sự phát triển của cơ sở kinh tế trong thời đại mới. Theo tác giả, mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội thực chất là mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế cá nhân với lợi ích kinh tế toàn xã hội, tức là mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Khi nói “không thể chỉ chạy theo lợi ích kinh tế mà bỏ qua lợi ích xã hội”, thực chất muốn nói “không thể chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà bỏ qua lợi ích xã hội”. Tác giả cũng cho rằng không thể bỏ qua giá trị văn hóa chỉ vì lợi ích kinh tế. Hiệu quả xã hội phản ánh trách nhiệm xã hội của xuất bản, bao hàm hiệu quả kinh tế. Quan trọng hơn, hiệu quả xã hội nhấn mạnh đến giá trị văn hóa, định hướng tư tưởng và ảnh hưởng xã hội.
Tác giả cho rằng, đánh giá hiệu quả xã hội của xuất bản sách phải xuất phát trên cơ sở nắm vững các thuộc tính bản chất của xuất bản. Xuất bản có vị trí quan trọng đối với công tác tuyên truyền tư tưởng, là phương tiện quan trọng kế thừa và phổ biến tri thức văn hóa, là một bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa. Vì vậy, xuất bản luôn có hai mặt hiệu quả có liên quan nhưng không thể thay thế cho nhau. Hiệu quả xã hội phản ánh vai trò của đơn vị xuất bản 17 trong sự nghiệp xây dựng văn hóa tư tưởng của xã hội.
Hiệu quả xã hội biểu hiện trong nội dung xuất bản phẩm và thực tiễn hoạt động của đơn vị xuất bản. Đánh giá hiệu quả xã hội của xuất bản tập trung ở góc độ làm tốt công tác tuyên truyền tư tưởng, kế thừa, xuất bản tri thức văn hóa thể hiện ở nội dung, chủng loại, số lượng, chất lượng và kết cấu xuất bản phẩm. Hiệu quả được chia thành hiệu quả chính và hiệu quả phụ, gồm tám tiêu chí chính phụ. Hiệu quả chính bao gồm 5 tiêu chí: Chỉ số giá trị cốt lõi, Chỉ số giá trị học thuật, văn hóa, Chỉ số thị trường, Chỉ số quốc tế, Chỉ số hình ảnh xã hội của đơn vị xuất bản.
Chỉ số phụ gồm 3 tiêu chí: Chỉ số tiêu cực, Chỉ số pháp quy, Chỉ số tiêu chuẩn. Bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, đơn vị xuất bản Trung Quốc đều đang phải đối mặt với sự chuyển đổi từ cơ quan công quyền thành đơn vị doanh nghiệp, quản lý độc lập và tự chịu trách nhiệm về lãi lỗ. Do đó, sự tồn tại, phát triển doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận khiến đơn vị xuất bản tập trung vào lợi ích kinh tế. Điều này không phù hợp với chính sách xuất bản.
Việc điều chỉnh mối quan hệ giữa hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là vấn đề lý luận và thực tiễn đối với công tác quản lý xuất bản. Trung Quốc đã từng bước xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả kinh tế tương đối đầy đủ, nhưng đánh giá hiệu quả xã hội của xuất bản với một hệ thống chỉ số để sử dụng cụ thể cho nghiên cứu, đánh giá vẫn chưa hình thành. Từ đó, tác giả đề xuất hệ thống đánh giá gồm các tiêu chí: Chất lượng sách, Sức hấp dẫn thị trường của doanh nghiệp, Năng lực cạnh tranh, Đóng góp công ích cho xã hội. Những công trình nghiên cứu của các học giả trong nước Các công trình nghiên cứu như sách, đề tài khoa học, tạp chí… nghiên cứu liên quan về hiệu quả, hiệu quả xuất bản được luận án kế thừa.
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề hiệu quả. Hiệu quả là sự phản ánh việc sử dụng nguồn lực để đạt được mục tiêu nhất định. 18 Hiệu quả được bàn đến trong các ngành khoa học báo chí, truyền thông được tham khảo trong luận án. - Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Cuốn sách gồm có 9 chương cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản về truyền thông, truyền thông đại chúng, các loại hình truyền thông đại chúng cơ bản (sách, báo in, phát thành, truyền hình, điện ảnh, quảng cáo, internet, băng, đĩa và âm thanh) và những vấn đề của truyền thông đại chúng trong xã hội đại đặt ra các vấn đề lãnh đạo, quản lý, giao tiếp với các phương tiện truyền thông đại chúng. Về hiệu quả truyền thông, tác giả cho rằng, truyền thông đại chúng là hoạt động có mục đích, hiệu quả của truyền thông đại chúng là việc đạt được mục đích của hoạt động truyền thông đại chúng. Hiệu quả truyền thông đại chúng có thể chia thành ba mức độ: Hiệu quả tiếp nhận, hiệu quả thực tế, hiệu ứng xã hội. [67] - Dương Xuân Sơn (2015), Lý luận báo chí truyền thông, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
Nội dung cuốn sách bàn về các vấn đề có tính lý luận và phương pháp luận của báo chí, truyền thông. Với nội dung 9 chương, tác giả giải quyết những vấn đề lý luận như các khái niệm và thuật ngữ, các loại hình báo chí, đặc trưng, chức năng, nguyên tắc hoạt động của báo chí, pháp luật và đạo đức báo chí, hiệu quả báo chí, lao động sáng tác trong hoạt động báo chí. Tác giả cho rằng hiệu quả báo chí là việc vận dụng các quy luật, nguyên tắc, hình thức, phương thức hoạt động báo chí giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt mục đích. Hiệu quả báo chí được đo bằng công thức H=K/M, trong đó, H là hiệu quả, K là kết quả, M là mục đích.
Trong đó, kết quả của hoạt động báo chí là sự thay đổi về nhận thức, hình thành nhận thức, hướng dẫn hành động cho công chúng. Các yếu tố tạo nên hiệu quả báo chí bao gồm chiến lược thông tin, yếu tố con người, đối tượng phục vụ của báo chí. [63] - Lương Khắc Hiếu (2017), Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. Cuốn sách là công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong 7 chương sách, tác giả làm rõ các khái niệm, các yếu tố, các bộ phận cấu 19 thành công tác tư tưởng; chủ thể, khách thể, đối tượng công tác tư tưởng, mục đích công tác tư tưởng và phương thức tác động để đạt mục đích, nội dung giáo dục công tác tư tưởng; phương pháp, hình thức, phương tiện công tác tư tưởng; hiệu quả công tác tư tưởng. Theo tác giả, hiệu quả công tác tư tưởng là sự tương quan giữa kết quả đạt được với mục tiêu của công tác tư tưởng đặt ra và với chi phí về nguồn lực để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định. Đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng căn cứ trên ba mặt - tiêu chuẩn tinh thần, tiêu chuẩn thực tiễn và tiêu chuẩn chi phí. [41] Thứ hai, những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề hiệu quả xuất bản.
Các nghiên cứu về lý luận xuất bản chưa đề cập một cách rõ ràng lý thuyết về hiệu quả xuất bản. Tuy nhiên, từ các công trình nghiên cứu lý luận xuất bản, chúng ta có thể tìm thấy quan niệm về hiệu quả xuất bản thông qua nguyên lý, tính chất, đặc trưng của hoạt động xuất bản. Một số công trình tiêu biểu được đề cập đến như: - Ngô Sĩ Liên (Chủ biên) (1998): Nguyên lý hoạt động biên tập xuất bản sách, NXB Giáo dục, Hà Nội. Cuốn sách gồm 6 chương đề cập đến các vấn đề lý luận nền tảng của hoạt động xuất bản.
Đóng góp mới của cuốn sách thể hiện ở nội dung lý luận nghiệp vụ biên tập được trình bày cụ thể như: hệ thống khái niệm sách, xuất bản, xuất bản phẩm, biên tập đến vai trò, vị trí, chức năng của xuất bản được phân tích hệ thống, làm rõ bản chất hoạt động xuất bản. Đó là đặc tính về chính trị, đặc tính về kinh tế và đặc tính văn hóa của hoạt động xuất bản làm kim chỉ nam thực hiện công tác xuất bản. [52] - Trần Văn Hải (2007), Lý luận nghiệp vụ xuất bản (tập 1), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội. Kế thừa thành quả các công trình nghiên cứu trước đó, nội dung cuốn sách hệ thống hoá lý luận nghiệp vụ xuất bản trong 7 chương.
Đóng góp mới của công trình thể hiện ở ba nội dung lớn: (1) Làm rõ các khái niệm trung tâm của lý luận xuất bản như sách, xuất bản, xuất bản phẩm; (2) Lý giải mối quan hệ biện chứng của hoạt động xuất bản với các lĩnh vực đời sống xã hội - đời sống chính trị xã hội, đời sống kinh tế xã hội và đời sống văn hóa xã hội; (3) Làm rõ những vấn đề lý luận về công tác biên tập xuất bản, 20 về khái niệm, đặc trưng, nhiệm vụ. Tác giả cũng không đưa ra khái niệm về hiệu quả nhưng đề cập đến bản chất truyền thông của hoạt động xuất bản cũng như các tính chất quan trọng và mối quan hệ biện chứng giữa các tính chất của hoạt động xuất bản với các lĩnh vực đời sống chính trị, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa.[33] - Nguyễn Hồng Vinh (Chủ biên) (2012): Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, NXB Thời đại, Hà Nội. Xuất bản Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập là vấn đề nghiên cứu lý luận và thực tiễn bức thiết nhằm đổi mới từng bước toàn ngành xuất bản. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với xuất bản Việt Nam nói riêng, sự nghiệp văn hóa, nâng cao tri thức nói chung.
Đối mặt với cơ chế thị trường, ngành xuất bản gặp phải nhiều khó khăn, mặt tốt của kinh tế thị trường chưa được phát huy triệt để, mặt trái đang nổi lên.