Tổng quan luận án
Hoạt động xuất bản sách chính trị là một thành tố của ngành xuất bản, phản ánh trực tiếp và sâu sắc tính chất chính trị của hoạt động văn hóa, tư tưởng. Xuất bản sách chính trị có chức năng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và củng cố lý tưởng cách mạng cho nhân dân. Tính cấp thiết của đề tài "Hiệu quả xuất bản sách chính trị ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế" do nghiên cứu sinh Trần Thị Mai Dung thực hiện (chuyên ngành Xuất bản, mã số 9.01 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, bảo vệ năm 2024 dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Trần Hải Minh và PGS,TS Lê Văn Yên) được xác định trên ba bình diện:
- Về phương diện chính trị: Xuất bản sách chính trị là công cụ thuộc lĩnh vực tư tưởng đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và quản lý của Nhà nước. Từ Chỉ thị 20-CT/TW ngày 27-01-2003 đến Chỉ thị 44-CT/TW ngày 16-04-2020 của Ban Bí thư, yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị luôn được nhấn mạnh. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ các nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và sự chống phá của các thế lực thù địch. Bối cảnh hội nhập quốc tế đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng và khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Về phương diện lý luận: Xuất bản sách chính trị mang tính chất phức hợp với ba thuộc tính: tính chính trị (thực hiện nhiệm vụ tư tưởng), tính văn hóa (phổ biến tri thức khoa học, đại chúng) và tính kinh tế (sản xuất vật chất trong cơ chế thị trường, phân phối và lưu thông hàng hóa). Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về xuất bản, nhưng một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh về hiệu quả xuất bản sách chính trị vẫn chưa được xây dựng một cách đồng bộ.
- Về phương diện thực tiễn: Tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 20-CT/TW cho thấy bên cạnh các kết quả đạt được về cơ cấu thể loại và nội dung tuyên truyền, xuất bản sách chính trị vẫn còn bộc lộ hạn chế về chất lượng biên soạn, số lượng bản in, cơ chế phát hành, tổ chức bộ máy và trình độ nguồn nhân lực trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả xuất bản sách chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khảo sát và đánh giá thực trạng giai đoạn 2018–2022 tại 5 nhà xuất bản tiêu biểu, từ đó chỉ ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân, vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;
- Hệ thống và phân tích một số vấn đề lý luận về hiệu quả xuất bản sách chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế;
- Khảo sát, phân tích thực trạng hiệu quả xuất bản sách chính trị, qua đó đánh giá kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra về hiệu quả xuất bản sách chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất bản sách chính trị ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong thời gian tới.
Văn bản luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Hiệu quả xuất bản sách chính trị được đánh giá dựa trên tiêu chí nào?
- Câu hỏi 2: Trong thực tiễn, xuất bản sách chính trị có thể đạt cùng lúc hiệu quả chính trị - xã hội và hiệu quả kinh tế không?
- Câu hỏi 3: Những vấn đề đặt ra đối với hiệu quả xuất bản sách chính trị và giải pháp nào nâng cao hiệu quả xuất bản sách chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế?
Tương ứng với 3 câu hỏi là 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Hiệu quả xuất bản sách chính trị được đánh giá dựa trên quan hệ giữa mục tiêu và kết quả xuất bản. Các tiêu chí được xây dựng dựa trên ba mục tiêu chính: mục tiêu chính trị, mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế.
- Giả thuyết 2: Trong thực tiễn xuất bản sách chính trị có thể đạt được các mục tiêu chính trị, xã hội và kinh tế ở mức độ nhất định. Qua đó, sách chính trị truyền tải đường lối chính sách của Nhà nước, tích lũy tri thức, củng cố niềm tin cho độc giả và tạo nguồn thu cho đơn vị xuất bản.
- Giả thuyết 3: Thực tiễn đặt ra các vấn đề cần giải quyết trên cơ sở cân đối, hài hòa giữa các mặt chính trị, xã hội và kinh tế của xuất bản sách chính trị thông qua các nhóm giải pháp phù hợp.
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả xuất bản sách chính trị ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Về phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn nội dung vào thực trạng hiệu quả xuất bản sách chính trị theo bảng phân loại đề xuất; phạm vi không gian khảo sát tập trung vào 05 nhà xuất bản tiêu biểu gồm: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân và Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông; phạm vi thời gian nghiên cứu trong 5 năm, từ tháng 01-2018 đến tháng 12-2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:
Các nghiên cứu về hiệu quả xuất bản trong bối cảnh hội nhập quốc tế:
- Tác giả nước ngoài: Herbert Smith Bailey (1990) trong tác phẩm The Art and Science of Book Publishing tiếp cận nhà xuất bản như một doanh nghiệp văn hóa, phân tích mối liên hệ giữa mục tiêu văn hóa và thương mại. Hans Helmut Lehring (2000) với Einführung in den modernen buchverlag nhấn mạnh tiêu chí lựa chọn chủ đề dựa trên tính tư tưởng, chính trị, nghệ thuật song hành với mục tiêu doanh số. John B. Thompson (2012) trong Merchant of Culture phân tích biến động ngành xuất bản thương mại Anh và Mỹ dưới tác động của toàn cầu hóa và số hóa. Tại Trung Quốc, Fan-Lin (1998) nghiên cứu cơ chế mục tiêu của hiệu quả xuất bản, phân tích mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, khẳng định hiệu quả xã hội giữ vai trò chủ đạo. Robert E. Baensch (2003) nghiên cứu sự biến đổi của xuất bản Trung Quốc khi gia nhập WTO; Trần Hân (2013) bàn luận về chuyển đổi cơ chế quản lý, định giá và cạnh tranh trên thị trường xuất bản.
- Tác giả trong nước: Tạ Ngọc Tấn (2001) trong giáo trình Truyền thông đại chúng phân chia hiệu quả truyền thông thành ba mức độ: tiếp nhận, thực tế và hiệu ứng xã hội. Dương Xuân Sơn (2015) xác định hiệu quả báo chí qua công thức tương quan giữa kết quả và mục đích (H = K/M). Lương Khắc Hiếu (2017) đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng dựa trên tiêu chuẩn tinh thần, thực tiễn và chi phí. Trong chuyên ngành xuất bản, Ngô Sĩ Liên (1998) phân tích bản chất ba mặt (chính trị, văn hóa, kinh tế) của xuất bản; Trần Văn Hải (2007) hệ thống hóa lý luận nghiệp vụ và mối quan hệ biện chứng của xuất bản với đời sống xã hội; Nguyễn Hồng Vinh (2012) và Đường Vinh Sường (2013) phân tích hoạt động xuất bản như một ngành kinh tế - kỹ thuật và văn hóa - tư tưởng đặc thù trong cơ chế thị trường.
Các nghiên cứu về hiệu quả xuất bản sách chính trị:
- Nhiều công trình khoa học trong nước tập trung vào mảng sách lý luận, chính trị: Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Duy Hùng (2009) đánh giá thực trạng xuất bản, phát hành sách lý luận chính trị giai đoạn 2003–2008 và khẳng định nhà xuất bản chính trị là doanh nghiệp đặc biệt. Đề tài của Lê Minh Nghĩa (2009) nghiên cứu xuất bản sách phục vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trần Văn Hải (2013) làm rõ tính chất kết hợp hài hòa ba lợi ích (Nhà nước, đơn vị xuất bản, xã hội). Khuất Duy Kim Hải (2012) nghiên cứu sách chính trị phục vụ hệ thống chính trị cấp cơ sở xã, phường. Dương Trung Ý (2019) nghiên cứu chất lượng sách lý luận chính trị phục vụ đào tạo cán bộ và đề xuất 6 tiêu chí đánh giá. Các bài viết hội thảo của Trần Chí Đạt (2019), Nguyễn Văn Thành (2020), Hoàng Vĩnh Bảo (2020), Nguyễn Ngọc Bảo (2020), Đinh Xuân Dũng (2020), Nguyễn Viết Thông (2020), Nguyễn Vĩnh Thắng (2020), Vũ Trọng Lâm và Vũ Uyên Linh (2021), Nguyễn Hoa Mai (2021) đã đề cập các khía cạnh về ứng dụng công nghệ 4.0, bảo vệ nền tảng tư tưởng, biên soạn, biên tập và giải pháp phát hành sách chính trị.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:
- Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về hiệu quả xuất bản sách chính trị, bao gồm các khái niệm, phân loại, cấu trúc mô hình lý thuyết và hệ thống tiêu chí, thang đo đo lường cụ thể.
- Chưa phân tích một cách có hệ thống cơ sở chính trị, pháp lý và tác động nhiều mặt của bối cảnh hội nhập quốc tế đến xuất bản sách chính trị tại Việt Nam.
- Thiếu công trình nghiên cứu thực chứng khảo sát toàn diện thực trạng hiệu quả xuất bản sách chính trị dựa trên mô hình vận hành liên kết giữa ba chủ thể: Đảng/Nhà nước, đơn vị xuất bản và độc giả. Luận án chọn giải quyết các khoảng trống này nhằm thiết lập khung đánh giá khoa học và đưa ra giải pháp sát thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về hoạt động xuất bản. Về lý thuyết chuyên ngành, luận án kết hợp lý luận xuất bản hiện đại với lý thuyết mô hình truyền thông của Bruce Westley và Malcolm S. McLean (mô hình Westley - McLean). Mô hình này được vận dụng để mô tả dòng chảy thông tin chính trị, phản ánh mối quan hệ tương tác giữa người khởi xướng/lãnh đạo (Đảng, Nhà nước), kênh truyền thông trung gian đóng vai trò chọn lọc, biên tập, xuất bản (nhà xuất bản) và đối tượng tiếp nhận thông tin (độc giả, công chúng xã hội).
Khung đánh giá hiệu quả xuất bản sách chính trị được thiết lập gồm 3 nhóm tiêu chí cấp 1 và 15 tiêu chí cấp 2:
- Mức độ định hướng chính trị, tư tưởng: Đo lường mức độ truyền tải chủ trương, đường lối; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tỷ lệ cơ cấu đề tài trọng điểm;
- Mức độ ảnh hưởng thị trường: Đo lường số lượng đầu sách xuất bản, số lượng bản in, tỷ lệ tái bản, mức độ đa dạng của kênh phân phối, doanh thu và khả năng tự chủ tài chính của đơn vị xuất bản;
- Mức độ phản hồi của độc giả: Đo lường mức độ quan tâm, mức độ hài lòng về nội dung, hình thức trình bày, giá thành, khả năng đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và mức độ chuyển hóa thành nhận thức, niềm tin chính trị của người đọc.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp cách tiếp cận định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính:
- Nghiên cứu tư liệu thứ cấp: Phân tích hệ thống văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách quản lý nhà nước về xuất bản; báo cáo tổng kết giai đoạn 2018–2022 của Cục Xuất bản - In - Phát hành và 5 đơn vị xuất bản khảo sát; các công trình nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước.
- Phỏng vấn sâu: Luận án thực hiện phỏng vấn 10 cá nhân có độ tuổi từ 35 đến 70, chia thành 3 nhóm đối tượng: Nhóm 1 gồm 5 cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng/ban trở lên tại các đơn vị xuất bản; Nhóm 2 gồm 3 biên tập viên và biên tập viên chính có kinh nghiệm nghề nghiệp từ 5 năm trở lên; Nhóm 3 gồm 2 chuyên gia nghiên cứu lý luận về xuất bản sách chính trị.
- Phương pháp định lượng:
- Thống kê dữ liệu xuất bản: Thu thập dữ liệu xuất bản 5 năm (2018–2022) từ nguồn Lưu chiểu thuộc Cục Xuất bản - In - Phát hành và Thư viện Quốc gia Việt Nam trên các biến số: tên sách, tác giả, ngôn ngữ, nhà xuất bản, năm xuất bản, hình thức xuất bản (tự xuất bản, liên kết, đặt hàng), hình thức sách (sách lẻ, sách bộ), số lần tái bản, số lượng bản in và giá bìa. Dữ liệu được xử lý bằng Microsoft Excel để vẽ biểu đồ Pareto, biểu đồ phân bổ và cơ cấu thể loại.
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Khảo sát độc giả trực tiếp và trực tuyến qua Google Form. Số phiếu phát ra dự kiến là 650 phiếu, thu về 606 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 93,3%). Dữ liệu được phân tích trên phần mềm SPSS thông qua kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, thống kê tần số (Mean, Min, Max, Std. Deviation), thống kê điểm trung bình theo thang đo Likert và phân tích hệ số tương quan tuyến tính Pearson ($r$) để kiểm tra mối quan hệ giữa đặc trưng nhân khẩu học với trạng thái tiếp nhận sách chính trị.
Đặc trưng nhân khẩu học của mẫu khảo sát $N = 606$ được tổng hợp trong bảng sau:
| STT |
Đặc trưng mẫu |
Phân loại cụ thể |
Số lượng ($N$) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Giới tính |
Nam |
240 |
39,3% |
|
|
Nữ |
366 |
60,7% |
| 2 |
Dân tộc |
Kinh |
589 |
97,2% |
|
|
Dân tộc khác |
17 |
2,8% |
| 3 |
Độ tuổi |
Từ 18 - 30 tuổi |
259 |
42,9% |
|
|
Từ 31 - 40 tuổi |
212 |
35,1% |
|
|
Từ 41 - trên 60 tuổi |
135 |
22,0% |
| 4 |
Khu vực sinh sống, làm việc |
Thành thị |
503 |
83,7% |
|
|
Nông thôn, trung du, miền núi |
104 |
16,3% |
| 5 |
Trình độ học vấn |
Đại học |
361 |
60,3% |
|
|
Sau đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) |
202 |
33,7% |
|
|
Trình độ khác |
36 |
6,0% |
| 6 |
Trình độ lý luận chính trị |
Chưa qua đào tạo lý luận |
197 |
33,5% |
|
|
Sơ cấp lý luận chính trị |
97 |
16,5% |
|
|
Trung cấp lý luận chính trị |
184 |
31,3% |
|
|
Cao cấp lý luận chính trị |
110 |
18,7% |
| 7 |
Cơ quan làm việc |
Chưa đi làm (Sinh viên) |
128 |
21,2% |
|
|
Cơ quan Đảng, Nhà nước |
159 |
26,3% |
|
|
Lực lượng Quân đội / Công an |
102 |
17,0% |
|
|
Trường học / Học viện |
205 |
34,0% |
|
|
Cơ quan, đơn vị khác |
9 |
1,5% |
| 8 |
Nghề nghiệp |
Cán bộ, công chức, viên chức |
120 |
19,9% |
|
|
Giảng viên, nghiên cứu viên |
141 |
23,4% |
|
|
Sinh viên |
203 |
33,7% |
|
|
Sĩ quan quân đội / công an |
102 |
10,8% |
|
|
Nhân viên / Khác |
37 |
12,2% |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung phân tích các công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến hiệu quả xuất bản và hiệu quả xuất bản sách chính trị. Nội dung được cấu trúc thành ba nhóm vấn đề: các công trình về hiệu quả xuất bản nói chung; các công trình về hiệu quả xuất bản sách chính trị; đánh giá chung và xác định các khoảng trống khoa học.
Tác giả chỉ rõ các nghiên cứu quốc tế thường nhìn nhận xuất bản từ góc độ kinh tế truyền thông, nhấn mạnh sự cân bằng giữa trách nhiệm văn hóa xã hội và bài toán lợi nhuận. Các học giả trong nước chú trọng nghiên cứu sách lý luận, chính trị dưới góc độ công tác tư tưởng và nhiệm vụ chính trị của Đảng. Chương 1 khẳng định sự thiếu vắng của một công trình nghiên cứu chuyên biệt về hiệu quả xuất bản sách chính trị tiếp cận từ góc độ kết hợp giữa lý luận xuất bản và mô hình truyền thông, có hệ thống tiêu chí định lượng và khảo sát thực tế tại các nhà xuất bản nòng cốt ở Việt Nam.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về hiệu quả xuất bản sách chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn. Tác giả phân tích khái niệm sách chính trị, phân biệt với sách lý luận, chính trị và sách lý luận chính trị. Sách chính trị được xác định là loại sách chuyển tải một cách có hệ thống quan điểm, đường lối của giai cấp, chính đảng, chính sách của Nhà nước, tri thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và tâm lý chính trị, hướng tới nhiều tầng lớp bạn đọc.
Luận án chỉ ra ba tính chất trụ cột của xuất bản sách chính trị:
- Tính chính trị: Thuộc tính bản chất chi phối toàn bộ quy trình xuất bản, bảo đảm định hướng tư tưởng của giai cấp cầm quyền;
- Tính văn hóa: Thể hiện qua giá trị tri thức khoa học, thẩm mỹ và chức năng giáo dục nhân sinh quan, nâng cao dân trí;
- Tính kinh tế: Thể hiện qua quy trình sản xuất vật chất, tạo ra hàng hóa lưu thông trên thị trường, đòi hỏi tính toán chi phí, doanh thu và bảo toàn vốn.
Chương này phân tích các hệ thống phân loại sách chính trị trên thế giới như Khung phân loại Thư viện Quốc hội Mỹ (LCC - Class J), Khung phân loại Thư viện Trung Quốc (CLC - Class D và Class A) và bảng phân loại của Cục Xuất bản - Thư viện Quốc gia Việt Nam (lớp Chính trị - Xã hội, phân lớp 32 và phân lớp 1).
Trên cơ sở mô hình truyền thông Westley - McLean, tác giả mô hình hóa quy trình xuất bản sách chính trị, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Tác giả cũng phân tích tác động của bối cảnh hội nhập quốc tế (cạnh tranh thông tin, chuyển đổi số, rào cản bản quyền) và khảo cứu kinh nghiệm xuất bản sách chính trị của Hoa Kỳ và Trung Quốc để rút ra bài học gợi mở cho Việt Nam.
Chương 3: Hiệu quả xuất bản sách chính trị ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tế giai đoạn 2018–2022 tại 5 đơn vị: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân và Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông. Thực trạng hiệu quả được đánh giá dựa trên 3 tiêu chí chính:
- Tiêu chí định hướng chính trị, tư tưởng: Tỷ lệ sách phục vụ tuyên truyền đại hội Đảng, sách bảo vệ nền tảng tư tưởng, sách nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục xuất bản. Các nhà xuất bản đã chủ động tổ chức các mảng sách trọng điểm, sách dịch và sách đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.
- Tiêu chí ảnh hưởng thị trường: Số liệu thống kê lưu chiểu phản ánh sự biến động về số đầu sách, số bản in, tỷ lệ sách tái bản và việc áp dụng phương thức xuất bản điện tử. Phân tích Pareto chỉ ra cơ cấu sách tập trung vào một số mảng chủ đề nhất định. Mạng lưới phát hành sách chính trị chủ yếu thông qua kênh trang bị nội bộ, đơn đặt hàng của cơ quan Nhà nước; kênh thương mại điện tử và phát hành ra thị trường tự do còn hạn chế.
- Tiêu chí phản hồi của độc giả: Kết quả phân tích $N = 606$ phiếu khảo sát bằng SPSS cho thấy: phần lớn độc giả đánh giá cao tính chuẩn xác về nội dung, giá trị tư tưởng của sách chính trị; tuy nhiên, mức độ hài lòng về hình thức trình bày, tính hấp dẫn của ngôn ngữ diễn đạt và dịch vụ phân phối còn ở mức trung bình. Phân tích tương quan Pearson ($r$) chỉ ra mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị và môi trường công tác với mức độ quan tâm và tần suất đọc sách chính trị.
Từ thực trạng, chương 3 chỉ ra các kết quả đạt được, phân tích nguyên nhân của các hạn chế (sự phụ thuộc vào ngân sách cấp phát, năng lực nghiên cứu thị trường của biên tập viên, phương thức truyền thông sách chưa đa dạng) và nhận diện các vấn đề đặt ra đối với việc hài hòa giữa nhiệm vụ chính trị và hiệu quả kinh tế.
Chương 4: Yêu cầu đặt ra, quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả xuất bản sách chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Trên cơ sở phân tích thực trạng và dự báo bối cảnh quốc tế, chương 4 xác định các yêu cầu mới về mặt tư tưởng, công nghệ và cơ chế thị trường, đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và 3 nhóm giải pháp thực hiện:
- Nhóm giải pháp từ phương diện lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xuất bản; xây dựng cơ chế đặt hàng, tài trợ xuất bản các đề tài sách chính trị trọng điểm; đổi mới cơ chế tài chính đối với nhà xuất bản đặc thù; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát chất lượng xuất bản phẩm; xây dựng quy hoạch và tiêu chuẩn phát triển nguồn nhân lực xuất bản chính trị.
- Nhóm giải pháp từ phương diện nghiệp vụ xuất bản: Đổi mới quy trình xây dựng kế hoạch đề tài, bám sát nhu cầu xã hội; nâng cao chất lượng công tác biên tập, kết hợp tính khoa học và tính hấp dẫn; hiện đại hóa công nghệ xuất bản, phát triển xuất bản điện tử và sách đa phương tiện; chuyên nghiệp hóa khâu marketing, truyền thông sách chính trị trên không gian mạng; mở rộng liên kết xuất bản và hợp tác quốc tế trong giao dịch bản quyền sách chính trị dịch xuôi và dịch ngược.
- Nhóm giải pháp từ phương diện độc giả: Xây dựng và phát triển văn hóa đọc sách chính trị trong các cơ quan, đoàn thể, trường học và lực lượng vũ trang; đa dạng hóa các hình thức giới thiệu, sinh hoạt học tập từ sách; khảo sát định kỳ nhu cầu của từng nhóm công chúng độc giả (cán bộ lãnh đạo, giảng viên, sinh viên) để kịp thời cung cấp các xuất bản phẩm phù hợp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tổng hợp các đóng góp khoa học mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Làm rõ nội hàm khái niệm sách chính trị và xuất bản sách chính trị; phân tích ba tính chất cơ bản (tính chính trị, tính văn hóa, tính kinh tế) và mối quan hệ giữa các tính chất này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xác định cơ sở chính trị, pháp lý của xuất bản sách chính trị ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Xây dựng mô hình lý thuyết nghiên cứu hiệu quả xuất bản sách chính trị dựa trên sự kết hợp giữa lý luận xuất bản và mô hình truyền thông Westley - McLean; xác lập khung tiêu chí và thang đo đánh giá gồm 3 tiêu chí cấp 1 và 15 tiêu chí cấp 2.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống số liệu về thực trạng xuất bản sách chính trị tại Việt Nam qua khảo sát chuyên sâu 5 nhà xuất bản nòng cốt giai đoạn 2018–2022.
- Thu thập và xử lý bộ dữ liệu thực chứng từ 606 độc giả thông qua các công cụ thống kê tin cậy (Cronbach's Alpha, Likert, Pearson), đo lường thực tế mức độ tác động của sách chính trị đến nhận thức và niềm tin của người đọc.
- Đề xuất ba nhóm giải pháp đồng bộ gắn với các chủ thể: cơ quan lãnh đạo/quản lý (Đảng, Nhà nước), đơn vị sản xuất/phân phối (nhà xuất bản) và đối tượng thụ hưởng (độc giả).
Về kiến nghị:
- Kiến nghị Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế đặt hàng, đầu tư nguồn lực cơ sở vật chất cho xuất bản số, hỗ trợ giá sách chính trị cho vùng sâu, vùng xa.
- Kiến nghị các cơ quan chủ quản tạo quyền tự chủ linh hoạt cho các nhà xuất bản trong tổ chức bộ máy và hoạt động sản xuất kinh doanh sách chính trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi khảo sát: Luận án chỉ tập trung khảo sát 5 nhà xuất bản nòng cốt đóng trên địa bàn Hà Nội, chưa mở rộng thu thập số liệu tại các nhà xuất bản tổng hợp địa phương hoặc các nhà xuất bản trường đại học có xuất bản sách chính trị.
- Về mẫu khảo sát độc giả: Mẫu khảo sát $N = 606$ có tỷ lệ người sống và làm việc tại khu vực thành thị chiếm đa số (83,7%), tỷ lệ độc giả ở khu vực nông thôn, miền núi còn thấp (16,3%), chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu tiếp cận sách chính trị của các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn khó khăn.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu hiệu quả xuất bản sách chính trị tại các nhà xuất bản địa phương và các đơn vị liên kết xuất bản tư nhân.
- Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình kinh doanh, bảo vệ bản quyền số và hành vi của độc giả đối với các định dạng xuất bản mới như sách điện tử tương tác, sách nói (audiobook) chính trị trên các nền tảng số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với các cơ quan chỉ đạo, quản lý (Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất bản - In - Phát hành): Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tế phục vụ công tác rà soát, đánh giá chính sách xuất bản, định hướng quy hoạch và cơ chế đặt hàng xuất bản phẩm chính trị.
- Đối với các đơn vị xuất bản, phát hành: Khung tiêu chí và thang đo trong luận án là công cụ để các nhà xuất bản tự đánh giá hiệu quả hoạt động, từ đó điều chỉnh cơ cấu đề tài, cải tiến quy trình biên tập và áp dụng giải pháp phát hành phù hợp với thị trường.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu học tập, tham khảo hữu ích cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Xuất bản, Báo chí, Truyền thông và Khoa học chính trị trong nghiên cứu lý luận truyền thông và kinh tế xuất bản.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "sách chính trị" và "sách lý luận chính trị" như thế nào?
Luận án xác định sách lý luận chính trị là loại sách chứa đựng tri thức khoa học chính trị ở cấp độ cao, khái quát, phản ánh các quy luật của hoạt động chính trị. Khái niệm sách chính trị có nội hàm rộng hơn, bao hàm cả sách lý luận chính trị, sách kinh nghiệm thực tiễn chính trị, tri thức chính trị phổ thông và các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể.
2. Mẫu khảo sát xã hội học của luận án gồm bao nhiêu phiếu và được xử lý bằng công cụ nào?
Luận án thu về 606 phiếu khảo sát hợp lệ từ độc giả trên tổng số 650 phiếu phát ra (đạt tỷ lệ 93,3%). Dữ liệu được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS để kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha, tính điểm trung bình thang đo Likert, thống kê tần số và kiểm định tương quan tuyến tính Pearson ($r$).
3. Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả xuất bản sách chính trị của luận án gồm những nhóm nào?
Khung tiêu chí gồm 3 tiêu chí cấp 1 và 15 tiêu chí cấp 2. Ba tiêu chí cấp 1 gồm: (1) Mức độ định hướng chính trị, tư tưởng; (2) Mức độ ảnh hưởng thị trường; (3) Mức độ phản hồi của độc giả.
4. Luận án khảo sát chuyên sâu tại những đơn vị xuất bản nào trong giai đoạn 2018–2022?
Luận án khảo sát chuyên sâu tại 5 đơn vị xuất bản nòng cốt: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân và Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
5. Luận án sử dụng lý thuyết truyền thông nào làm khung phân tích chính?
Luận án sử dụng mô hình truyền thông của Bruce Westley và Malcolm S. McLean (mô hình Westley - McLean) kết hợp với các nguyên lý của lý luận xuất bản để mô tả mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo (Đảng, Nhà nước), kênh truyền thông trung gian (nhà xuất bản) và công chúng tiếp nhận (độc giả).
Kết luận
Luận án "Hiệu quả xuất bản sách chính trị ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế" của tác giả Trần Thị Mai Dung là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Xuất bản, giải quyết đồng bộ cả phương diện lý luận và thực tiễn về hiệu quả xuất bản sách chính trị. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, luận án đã xây dựng khung tiêu chí đánh giá gồm 3 nhóm tiêu chí cấp 1 và 15 tiêu chí cấp 2, đồng thời phân tích thực trạng giai đoạn 2018–2022 tại 5 nhà xuất bản nòng cốt. Các phát hiện thực chứng và hệ thống giải pháp đề xuất theo ba nhóm chủ thể (Đảng/Nhà nước, nhà xuất bản, độc giả) cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản trị xuất bản và hoạch định chính sách văn hóa tư tưởng tại Việt Nam.