chương 1 Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm dân tộc có thể được định nghĩa theo hai hướng: đến t6c (nafion), tức các quốc gia dân tộc độc lập và đân tộc (efhnie), tức các cộng đồng tộc người đa số hay thiểu số trong từng quốc gia. Hai cách hiểu này tuy không đồng nhất nhưng lại gắn bó mật thiết, không thê tách rời. Quốc gia dân tộc bao hàm các dân tộc tộc người; dân tộc tộc người là bộ phận hình thành nên quốc gia dân tộc. Điều này cũng được nhắc đến trong quan điểm của Lênin về hai xu hướng khách quan trong sự phát triển mối quan hệ dân tộc.
Xu hướng thứ nhất là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra đề xác lập các cộng đồng dan tộc độc lập. Xu hướng thứ hai là các dân tộc trong từng quốc gia, kế các các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác về mỗi quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tộc những năm đầu thế kỷ XX, kết hợp phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc, Cương lĩnh dân tộc của V. Lênin đã khái quát: “Các dân tộc hoàn toàn bình đăng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”.
Cương lĩnh dân tộc chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở lý luận quan trọng để các Đảng Cộng sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây đựng chú nghĩa xã hội. 1Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Chủ øghña xã hội khoa học. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỎN, GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SAN VAN HOA CUA DONG BAO KHMER O VIET NAM HIEN NAY 2. Đặc điểm dân tộc Việt Nam 2. Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người Theo các tài liệu chính thức, nước ta có 54 dân tộc. Dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc đa số.
Dân số thuộc dân tộc Kinh là 82.826 người, chiếm 85,3%. Trong 53 dân tộc thiểu số, 6 dân tộc có dân số trên | triệu người là: Tày, Thái, Mường, Khmer, Nùng (trong đó dân tộc Tày có dân số đông nhất với 1,85 triệu người); 11 dan tộc có dân số dưới 5 nghìn người, trong đó Ơ Đê là dân tộc có dân số thấp nhất (428 người). Thực tế cho thấy, một dân tộc có dân số ít sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tô chức cuộc sông, bảo tồn tiếng nói và văn hóa dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiêu số, đặc biệt đối với những dân tộc thiêu số rất it người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt.
Các dân tộc cư trủ xen ké nhau Việt Nam vốn là nơi chuyên cư của nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á. Tính chất chuyển cư như vậy đã làm cho bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen kẽ và làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thô tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn. Đặc điểm này một màu tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết, mở rộng giao lưu, giúp đỡ nhau cùng phát triển, tạo nên một nền văn hóa thông nhất trong đa dạng.
Mặt khác, do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn, xung đột, tạo kẽ hở dé các thé lực thù địch lợi đụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bỗ chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lwoc quan trong 1Bộ Giáo dục và Đào tạo. Gido trinh Chu nghia xã hội khoa học. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.
?Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 13 Mac di chi chiém 14,3% dan sé, nhung 53 dan tộc thiểu số Việt Nam lại cư trú trên 3/4 diện tích lãnh thô và ở những địa bàn trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái — đó là vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa của đất nước.
Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước lắng giềng và khu vực, ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Khmer, dân tộc Hoa. do vậy, các thế lực phản động thường lợi đụng vấn để dân tộc để chống phá cách mạnh Việt Nam! 2. Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đầu Trình đệ phát triển kinh té — xã hội không đều nhau giữa các dân tộc hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhiều dân tộc đã đạt được đến trình độ cao về phát triển kinh tế — xã hội, nhưng một số dân tộc vẫn còn ở trình độ phát triển rất thấp.
Những nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển không đồng đều của các dân tộc có thể kế đến như: bị cách biệt về địa lý và hạn chế trong tiếp cận thị trường; bị cô lập về mặt xã hội, yếu tố văn hóa và ngôn ngữ; hạn chế trong tiếp cận đất đai có chất lượng: tỷ lệ di cư khỏi nơi sinh sống thấp và trình độ học vấn thấp. Tuy nhiên, một số dân tộc thiêu số đã có những sự phát triển đáng ghi nhận cả về kinh tế lẫn cệng đồng, chúng ta có thê kế ra cộng đồng dân tộc Khmer ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, người Ê-đê ở vùng Tây Nguyên đại ngàn, người HMông ở miền Tây Bắc,. họ đã tiến bộ trong phương thức sản xuất, t6 chức cộng đồng cũng như trong việc nâng cao mức sống của bà con, đó là những dấu hiệu đáng mừng và là mục đích phát triển trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà Nước, đề tạo nên một nước Việt Nam với 54 dân tộc anh em hòa bình, gắn kết và cùng phát triển. Các đân tộc Việt Nam có truyền thông đoàn kết, gắn bó lâu đồi trong cộng đồng đân tộc — quốc gia thông nhất Dưới sự lãnh đạo của Đáng Cộng sản Việt Nam, truyền thống ấy ngày càng được củng cô và tăng cường, từ cách mạng tháng tám năm 1945, đến chiến địch Điện Biên Phủ năm 1954, tới khi bước vào thời kỳ mới, cả nước vẫn tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết trong xây dựng và bảo vệ Tô quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội 1Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Giáo trình Chủ øghña xã hội khoa học. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 14 công băng, dân chủ, văn minh”. Nước ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong sự nghiệp đầu tranh, xây dựng và bảo vệ tô quốc.
Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau, nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hoá Việt Nam thông nhất Ban sắc văn hoá của các dân tộc được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc, điều đó đã tạo nên những sắc thái văn hoá riêng của từng dân tộc. Sự thông nhất trong đa dạng là đặc điểm của nền văn hoá cộng đồng các dân tộc ở nước ta. Nhiều di sản của cộng đồng các dân tộc ở nước ta đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa, di san vat thé, phi vật thé, qua đó càng cho thấy minh chứng cho một nước Việt Nam đậm đà, phong phú về bản sắc văn hóa, được đóng góp từ 54 dân tộc anh em.
Có thê kê ra “Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vat thể nhân loại, thuộc về các dân tộc: Ê-đê, Jarai, Ba na, Mạ, Lặc,. Chùa Khmer hay Nhà sàn Tây Nguyên cũng được công nhận và đưa vào danh mục bao vệ, Lễ hội Lồng Tông của người Tày, Nghi lễ Cấp sắc của người Dao, Lễ cúng thân rừng của người Pu Péo, Nghề làm gốm của người Chăm,. Khái quát về đồng bào Khmer 2. Nguôn gốc, ngôn ngữ và địa bàn cư trú của đồng bào Khmer Người Khmer tại Việt Nam (còn có tên gọi khác là: Cur, Cul, Cụ, Tho, Việt gốc Mién, Khmer Krôm) là bộ phận dân tộc Khmer sống ở Đồng bằng Sông Cứu Long.
Người Khmer được công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc anh em tại Việt Nam. “Tổ tiên của người Khmer Nam Bộ là lớp cư dân cô ở Đông Nam Ä cư ngụ tại vùng hạ Lào, đông bắc Campuchia ngày nay. Tộc người này từ thể kỷ 5-6 đã tạo dựng được một quốc gia với tên gọi Bhavapura, thư tịch cổ Trung Quốc gọi là Chân Lạp”. Dân tộc Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng nhưng cùng chung một nền văn hóa, một lịch sử bảo vệ và xây đựng tô quốc Việt Nam.
Đồng bào Khmer sống xen kẽ với 1 Quỳnh Trang. Sai, người Khmer có mặt ở vùng đát Nam Bộ từ thế kỉ 12. Truy cập từ https://vnexpress.neUnam-gioi-dan-toc-nao-deu-trai-qua-thoi-gian-tu-hanh-3828800- p5.html#:~:text=Theo%20cu%E1%BB%91n%20Ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20Khmer%20%E1%BB%9F,Q u%E1%BB%91c%20g%E 1%BB%8Di%201%C3%A0%20Ch%C3%A2n%20L%E1%BA%A1p 15 déng bao Kinh, Hoa trong cac phum, séc, ap. Nguoi Khmer Krom ndi tiéng Khmer, mét ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á và là ngôn ngữ chính thức của Campuchia.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Khmer ở Việt Nam có tdân số 1.652 người, có mặt tại nhiều tính ở Nam Bộ. Ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc bản địa có lịch sử định canh định cư rất lâu dài sống chủ yếu ở miền nam Việt Nam đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long thuộc các tỉnh thành như Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, được gọi là Khmer Krom (có nghĩa là #2, Dưới). Ngoại trừ số đồng bào Khmer cư trú ỏ vùng Bảy Núi trên độ cao, còn lại là ở vùng đồng bằng thường bị nhiễm mặn và phèn. Vài nét về kinh té Và hoạt động sản xuất, người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước.
Người Khmer đã biết thâm canh lúa nước từ lâu đời.