Chương I KHÁI NIỆM TƯ DUY TÔN GIÁO VÀ LỐI SỐNG 1. Khái niệm tư duy, tư duy tôn giáo, lối sống 1. Khái niệm tư duy: * Tư duy là gì? Để hiểu tư duy tôn giáo là gì, trước hết, cần phải hiểu tư duy là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy, mỗi định nghĩa phản ánh một cách tiếp cận về vấn đề tư duy từ những mặt, những khía cạnh, tính chất, đặc trưng khác nhau của tư duy. Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt (bộ não người).
Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán.9 Từ góc độ triết học, định nghĩa: Tư duy là một phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động tinh thần. Từ góc độ tâm sinh lý học, định nghĩa: Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý, hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp chỉ có ở con người, và là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người. Nói tóm lại, tư duy thuộc phạm trù ý thức, tinh thần, thuộc loại hoạt động trí óc chuyên “sản xuất” ra tư tưởng, tri thức. * Bản chất và quá trình hình thành của tư duy: Theo các định nghĩa như trên về tư duy, cho thấy, bản chất của tư duy là một trong các đặc tính của một dạng vật chất phát triển đến một 9 Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, Tập 4, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005.
16 trình độ tổ chức cao - bộ óc con người. Vậy nên, cơ chế hoạt động của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não, nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định của một con người nhất định mà còn gắn với sự tiến hoá của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội, bởi trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân, vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại. Tư duy là sản phẩm của tiến trình tiến hoá lâu dài trong quá trình lao động sản xuất của con người.
Nên, có thể nói: tư duy chính là thực tiễn đã được “cải biến” đi trong bộ óc con người. Song, tư duy không phải là một hiện tượng thụ động, bất biến. Nó mang "nội dung thực tiễn", thậm chí còn là sự sáng tạo vượt trên thực tiễn. Sự sáng tạo đó là thuộc tính của tư duy và cũng chính bởi có "sự sáng tạo” đó mà loài người ngày càng trở nên phát triển, tiến bộ.
Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người, trong quá trình đó, con người thu nhận được những thông tin, dữ liệu từ những nhận thức cảm tính ban đầu, trải qua quá trình khái quát hoá, trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp. từ đó con người rút ra những khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận. Như vậy, kết quả của tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh một cách khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, quy luật về sự vật, nhóm sự vật (thế giới khách quan bên ngoài con người và ngay chính bản thân con người). Mặc dù được tạo thành từ hoạt động thực tiễn, nhưng tư duy có tính độc lập tương đối của nó, sau khi xuất hiện, tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ những tri thức trước đấy, chịu sự tác động của những lý thuyết, quan điểm cùng thời với nó.
Tính độc lập đó làm cho tư duy có được tính tích cực sáng tạo trong việc tìm kiếm tri thức mới, có khả năng dự báo, 17 nhưng cũng làm cho nó trở nên dần dần xa rời hiện thực khách quan, trở thành lý luận thuần túy tư biện, lý luận suông. * Phân loại tư duy: Khi nói tư duy như một hoạt động tâm lý, trình độ nhận thức của con người thì phân loại thành: tư duy khoa học, tư duy kinh nghiệm, tư duy cảm tính, lý tính. Khi nói tư duy như một hoạt động trí óc về một lĩnh vực cụ thể nào đó (hình thức ý thức xã hội) thì phân chia thành: tư duy kinh tế, tư duy chính trị, tư duy nghệ thuật, tư duy tôn giáo. Khi nói đến tính chất của tư duy chịu sự ảnh hưởng của điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, thì phân chia thành tư duy tiểu nông, tư duy công nghiệp, tư duy tư bản chủ nghĩa, v.
Khi phân loại tư duy theo các hình thái kinh tế - xã hội: tư duy cộng sản nguyên thủy, tư duy chiếm hữu nô lệ, tư duy phong kiến, tư duy tư bản chủ nghĩa, tư duy xã hội chủ nghĩa… Khi phân loại tư duy theo giai đoạn lịch sử: tư duy cổ đại, tư duy trung đại, tư duy cận đại, tư duy hiện đại… Khi nói đến tư duy phản ánh bản sắc, cá tính văn hóa của một quốc gia dân tộc nào đó thì phân loại: tư duy Việt Nam, tư duy Trung Hoa, tư duy Ấn Độ, tư duy Nga, tư duy Pháp, tư duy Mỹ… Nói tóm lại, có rất nhiều định nghĩa, phân chia loại hình khác nhau về tư duy. Trên cơ sở đó, đề tài sử dụng khái niệm tư duy theo nghĩa sau đây: Tư duy là quá trình hoạt động trí óc (chuyên sản xuất ra tư tưởng, tri thức) về một lĩnh vực cụ thể nào đó như Triết học, Văn học, Sử học, Chính trị học, Tôn giáo., thể hiện sự nhận thức của con người về thế giới xung quanh và về chính bản thân mình (thế giới quan, nhân sinh quan) thông 18 qua các ý niệm, khái niệm, phán đoán, nhận định, lập luận, quan điểm, học thuyết. Tư duy tôn giáo * Tư duy tôn giáo là gì? Tôn giáo, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, là một hình thái của ý thức xã hội, nhưng xét về mặt kết cấu, tôn giáo bao gồm 5 yếu tố cơ bản: Giáo chủ (Người khai đạo); Giáo lý (Hệ thống lý thuyết); Nghi lễ thờ cúng; Giáo hội (Tổ chức của những người cùng chung đức tin và tổ chức thực hiện các nghi lễ); Tín đồ. Trong 5 yếu tố đặc trưng trên, hệ thống lý thuyết (giáo lý) thuộc phạm trù ý thức, tinh thần, tư duy.
Còn 4 yếu tố còn lại mang tính vật chất, thực thể. Chính vì vậy, tôn giáo vừa là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội (tư duy, tinh thần, tư tưởng, tâm lý, tình cảm Tôn giáo), nhưng nó đồng thời cũng là một thực thể, một tồn tại xã hội (Chùa, đền, miếu, phủ, nhà thờ, tín đồ. Hệ thống giáo lý của tôn giáo thể hiện sự nhận thức của con người về thế giới xung quanh và về chính bản thân mình (Thế giới quan, nhân sinh quan) thông qua hệ thống các tín điều của nó. 10 Ý niệm, khái niệm, phán đoán, nhận định, quan điểm, học thuyết.
là những cấp độ khác nhau phản ánh trình độ, năng lực của tư duy. Ý niệm: sự hiểu biết, nhận thức bước đầu về sự vật, chưa nhận thức được rõ những thuộc tính cơ bản nhất của sự vật. Khái niệm: là một hình thái của tư duy, phán ánh những thuộc tính cơ bản nhất về sự vật để phân biệt sự vật này với sự vật khác. Phán đoán: sự suy xét rút ra những nhận định từ những điều đã biết trước, phán đoán có thể đúng có thể sai.
Học thuyết: Toàn bộ tri thức khoa học được trình bày một cách hệ thống nhằm lý giải những vấn đề ở những lĩnh vực cụ thể. 19 Hệ thống giáo lý của một tôn giáo nào đấy phản ánh những quan niệm, quan điểm về thế giới, vũ trụ và con người dưới nhãn quan của tôn giáo ấy (Tôn giáo quan). Do đó, kết quả của tư duy tôn giáo là những tri thức được thể hiện trong các giáo lí, hệ thống thần học. Nói một cách khác, thông qua hệ thống giáo lý, tín điều của các tôn giáo, chúng ta có thể hiểu được tôn giáo quan của nó, hiểu được tư duy tôn giáo, hiểu được tư duy của con người về các vấn đề thuộc lĩnh vực tôn giáo (về thế giới các thánh thần, về thiên đường, địa ngục và cuộc sống sau khi chết.
Tuy nhiên, tư duy tôn giáo không chỉ thể hiện qua hệ thống tín điều, giáo lý mà còn thể hiện qua tình cảm, xúc cảm, tâm lý tôn giáo của con người. Song, trong phạm vi giới hạn cho phép của đề tài, chúng tôi sử dụng khái niệm tư duy tôn giáo theo nghĩa là những quan niệm, quan điểm về thế giới, vũ trụ và con người dưới nhãn quan của tôn giáo. * Đặc điểm của tư duy tôn giáo: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư duy tôn giáo là loại tư duy tư biện về tất cả những gì thoát ra khỏi khoa học và hiện thực, tức là đối tượng của tư duy tôn giáo là thế giới siêu nhiên, thế giới không hiện hữu, không tồn tại thực. Tôn giáo chỉ bàn đến thiên đường, địa ngục, linh hồn.
Tư duy tôn giáo cũng thuộc loại tư duy siêu hình, ảo tưởng và sai lầm, nói như Ph.Ăngghen: Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế11. Tức là, chính bản thân con người, trong quá trình nhận thức của mình, với một 11 Ph.Ăngghen, Chống Đuy Rinh, trong C.Ăngghen, Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 20 năng lực tư duy trừu tượng, đã sáng tạo ra thánh thần theo hình ảnh và sự mong ước của chính mình, và rồi họ lại gán cho thánh thần những sức mạnh siêu nhiên, và nghiêng mình trước sản phẩm của chính mình, khiến cho thế giới thánh thần trở thành một thế giới xa lạ không thuộc về con người nữa. Cái mà con người cho là thượng đế thì đó chính là tinh thần, là tư duy, là ý thức, là tâm hồn, là trái tim của họ.
Ý thức (tư duy) về thượng đế là sự tự ý thức (tự tư duy) của con người, sự nhận thức về thượng đế là sự nhận thức của con người về thế giới và về chính bản thân mình mà thôi, đúng như C.