Chương 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SÓNG VĂN HÓA TINH THAN NGƯỜI DAN HAI PHONG HIỆN NAY 1. Nhân sinh quan va nhân sinh quan Phật giáo 1.Nhân sinh quan Khái niệm nhân sinh quan đã có từ rất lâu đời và được đề cập phố biến trong cuộc sống. Nhân sinh quan là nguồn gốc của mọi suy nghĩ, hành động, đồng thời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, hướng con người đến ý chí, phan đấu.
Do vậy, quan niệm này luôn gắn liền với quá trình hình thành va phát triển của con người ở mỗi thời kỳ. Sự thật là ở thời đại khác nhau sẽ có quan niệm về nhân sinh quan khác nhau bởi ý thức xã hội sẽ phản ánh lại cái tồn tại xã hội sản sinh ra nó: “ thời đại khác nhau,. Hoàn cảnh sinh hoạt về chính trị, kinh tế và văn hóa cũng thay đôi. Tất cả đều ảnh hưởng đến con người và biến đổi “ đạo” làm người một cach tự giác hay không tự giác ”[15, tr.
Vì “nhân sinh quan là thuộc về ý thức tư tưởng, cũng như bất cứ ý thức tư tưởng nào, mỗi nhân sinh quan đều có cơ sở kinh tế nhất định ”[32, tr. Trong lịch sử xã hội loài người đã xuất hiện các loại hình xã hội điển hình như: xã hội cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiếm, xã hội tư bản chủ nghĩa. Và ngày nay, chúng ta đang tiễn lên xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa. Ở mỗi một loại hình xã hội khác nhau thì đều xuất hiện những đạo làm người hay thế giới quan khác nhau.
Cụ thể, trong xã hội cộng sản nguyên thủy, con người làm việc chung, hưởng thụ chung nên chế độ tư hữu tài sản và sự áp bức giai cấp chưa xuất hiện. Cũng bởi phương thức sản xuất còn thô sơ, hạn chế về nhận thức nên họ chưa biết đến đạo làm người là gì? Trước sự thần bí và sức mạnh của thiên nhiên, con người sợ hãi, họ không đủ sức chống cự, cũng không thê giải thích được nên mọi người tin rang thân linh chi phôi tat cả các sự vật, hiện tượng 11 trên thé giới. Từ đó, con người trở nên mê tín tôn giáo, sùng bái quỷ thần. Ho thờ trời, thờ núi sông, thờ muông thú.
và nhiều lúc coi những thứ đó là nguồn gốc, tô tiên của mình. Nếu như ở chế độ cộng sản nguyên thủy, con người làm chung ăn chung, sống không phân biệt giai cấp thì ở xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội có sự phân hóa giai cấp khắc nghiệt. Khi xuất hiện của cải dư thừa, chế độ tư hữu về tài sản xuất hiện, loài người dần có sự phân biệt và áp bức giữa giai cấp nô lệ và giai cấp chủ nô. Giai cấp chủ nô xây dựng chế độ nhà nước, định ra pháp luật dé thống trị giai cấp nô lệ.
Chúng giảng giải đạo làm người, lợi dụng sự mê tín, sùng bái quỷ thần của con người thời xã hội nguyên thủy để đưa ra luân điệu về chế độ của mình lập nên. Giai cấp chủ nô khiến giai cấp nô lệ hiểu chế độ mà họ đang cam chịu là do ý trời, không thé thay đổi được, cũng không thé phản kháng, đấu tranh. Ở xã hội phong kiến, xã hội loài người lại tồn tại hai giai cấp đối lập, mâu thuẫn với nhau là giai cấp địa chủ và nông dân. Bọn địa chủ bóc lột tàn ác, chúng đem những ý niệm về lễ giáo và danh phận ra đầu độc người dân.
Đạo làm người được chúng biến tấu thành tôn kính quỷ thần, trung với vua, hiếu với cha, an phận thủ thường, khiến người dân mê muội, mất dần khả năng phản kháng, chấp nhận cuộc sống bị áp bức. Mãi cho đến khi xã hội phong kiến Suy đôi, xuất hiện xã hội tư bản, giai cấp tư sản là giai cấp điển hình cho chế độ xã hội. Bởi giai cấp tư sản vì muốn làm giàu đã đề xướng khoa học và chính trị dân chủ, đề cao giải phóng con người và phản đối nền thống trị lạc hậu của xã hội phong kiến. Đến thời kỳ này, xã hội có những bước phát triển mới nên nhân sinh quan được con người xem như một bộ môn khoa học, dé ra dé nghiên cứu.
Cũng trong lòng xã hội tư bản, giai cấp tư sản làm chủ, nam mọi quyền lớn của quốc gia. Chúng vẫn thực hiện chính sách áp bức người dân, giai cấp khác dé đem lại lợi ích, phục vu cho giai cấp thống trị. Ngoài ra, chúng còn thi hành chính sách ngu dân, làm cho quan chúng càng mê muội đê càng dê thông tri. “ Cui 12 đầu chịu sự thống trị của giai cấp thống trị, phục vụ giai cấp ấy đó là đạo làm người của bọn thống trị dưới thời đại cũ đem dạy cho nhân dân.
Tuy nhiên, trong thời đại tư bản chủ nghĩa lại xuất hiện một giai cấp có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Giai cấp này rất mạnh mẽ, không yếu như nô lệ và nông dân ngày trước. Đó chính là giai cấp vô sản- giai cấp có tính cách mạng nhất trong lịch sử thế giới bởi họ có một chính đảng mạnh mẽ là Đảng cộng sản lãnh đạo, một chủ trương sáng suốt và đúng đắn cải tạo thế giới. Họ cũng có một đạo làm người cao cả, đó là nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác - Lénin.
Trong triết học nói chung, triết học Mác- Lénin nói riêng, nhân sinh quan và thé giới quan là hai khái niệm dé bị nhằm lẫn với nhau. Tuy nhiên, nếu xét về phạm vi thì nhân sinh quan nhỏ hơn thế giới quan rất nhiều, nó chỉ là một bộ phận của thế giới quan. “Thế giới quan thường được coi là bao hàm trong nó nhân sinh quan- vì nhân sinh quan là quan niệm của con người về đời sống với các nguyên tắc, thái độ và định hướng giá trị của hoạt động con người” [10, tr. Có thé nói, chủ nghĩa Mác - Lénin tập trung nghiên cứu va phân tích khái niệm thế giới quan nhiều hơn, tuy nhiên thông qua thế giới quan, nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác - Lénin van được hiểu là một hệ thong quan điểm về giá trị, ý nghĩa của cuộc sống con người, về mục dich sống và những con đường đi đến mục đích đó.
Nó được xây dựng trên nền tảng của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn liền với học thuyết về sự phát triển của xã hội từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nhân sinh quan chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng cuộc sống con người là hiện thực vật chất khách quan, có tính quy luật và có thể nhận thức được. Mọi hiện tượng trong cuộc sống, bao gồm cả cuộc sống COn người, đều vận động và phát triển theo những quy luật nhất định. Con người có thể nhận thức được những quy luật này và vận dụng chúng để cải tạo cuộc sông của minh.
Minh chứng điêu này băng câu nói của C. Mác: “Con vật chỉ tái sản xuât ra 13 bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [27, tr. Mác cho răng con người thông qua hoạt động thực tiễn của mình dé sản xuất ra vật chất, xây dựng nên cuộc sống cho chính minh. Con người không chỉ sống để tồn tại mà còn sống đề phát triển, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Đặc biệt, con người còn có khả năng nhìn nhận về cuộc song, đưa ra những quan điểm của riêng mình về thế giới xung quanh. Nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác - Lénin có ý nghĩa quan trọng trong việc giup cho con người hiểu rõ giá trị, ý nghĩa của cuộc sống, từ đó xác định đúng đắn mục đích sống của mình. Trên tinh thần kế thừa và phát triển những giá trị tri thức của các thời kỳ xã hội trước và quan điểm về nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà tư tưởng ở Việt Nam cũng đưa ra quan điểm của mình về nhân sinh quan. Trong Nhân sinh quan cách mạng, Trần Huy Thực cho rằng: “Nhân sinh quan là cách xem xét đời sống của mỗi người, cũng là van dé lập trường giai cap của mỗi người, là vì phục vụ cho ai, khổ sở vì ai” [38, tr.
Tác gia Đinh Đại Niên lại cho rằng nhân sinh quan là cách nhìn của con người đối với cuộc sống của họ, cũng đồng thời là quan điểm và đạo lý làm người của mỗi người: “Nhân sinh quan là cách nhìn của mỗi người đối với cuộc sống, là quan điểm cơ bản về đời sống của mỗi người và cũng là đạo lý làm người của mỗi người ” [29, tr. Còn trong Nhân sinh quan mới , tac giả Du Minh Hoàng đưa ra quan niệm, “Nhân sinh quan nói vắn tắt thì đó là cách người ta nhìn cuộc đời, hay là cái “đạo” làm người của người ta” [15, tr. Thông qua những quan niệm khác nhau về nhân sinh quan, ta thấy rằng chúng đều có những điểm chung nhất định như: Thứ nhất, nhân sinh quan thuộc lĩnh vực đời sống tinh than và đời sống văn hóa tỉnh thần. Thứ hai, nhân sinh quan phản ánh mối quan hệ giữa con người với các sự vật, hiện tượng trong xã hội.
14 Thứ ba, nhân sinh quan mang tính chất lịch sử và giai cấp vì nhân sinh quan luôn gắn bó với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Đồng thời, nó cũng thê hiện trình độ và quyền lợi khác nhau của từng giai cấp trong mỗi thời kỳ lich sử cụ thé. Thứ tu, những nội dung tri thức trong nhân sinh quan có ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân hay cả cộng đồng, bởi nó định hướng suy nghĩ và hành vi cua con họ. Cuối cùng, nhân sinh quan có thé là của cá nhân và cũng có thé của cộng đồng, xã hội.
Từ năm đặc trưng khái quát trên, ta thay nhân sinh quan là một hiện tượng tinh thần có cấu trúc phức tạp và được được thé hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, khái quát lại chúng có bốn yếu tố cơ bản, liên quan chặt chẽ với nhau là: Tri thức, tình cảm, niềm tin và lý tưởng. Bốn yếu tố này luôn tác động qua lại với nhau dé định hướng, điều chỉnh suy nghĩ, hành động của con người. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tiếp cận nhân sinh quan trên lập trường quan điểm của Mác-xít bởi tác giả luận văn muốn nghiên cứu nhân sinh quan dưới góc độ giá trị để thấy được bản chất, đặc trưng mà các quan niệm khác nhau ở mỗi thời kỳ đề cập đến.