Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE PHẬT GIÁO VA VAN HOA DAN GIAN VIET NAM 1. Khái lược chung về Phat giáo và văn hóa dân gian Việt Nam 1. Tổng quan chung về Phật giáo Phật giáo là một trong ba tôn giáo thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI, TCN ở An Độ. Thế kỷ III, II TCN Phật giáo được coi là quốc giáo ở An Độ, sau đó được truyền bá, lan tỏa sang các nước lân cận và khu vực.
Ngay nay Phật giáo có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Phật giáo ra đời trong điều kiện kinh tế xã hội An Độ có sự chuyển biến sâu sắc. Án Độ là một quốc gia có lịch sử lâu đời và nền văn minh phát trién sớm, từ thiên niên kỷ thứ III TCN, đó là nền văn minh tiền Vêda. Từ khoảng 1500 năm TCN, do những biến động xã hội An Độ đã chuyển sang một nền văn minh mới là nền văn minh Vêda.
Phật giáo ra đời trong nền văn minh này. Phật giáo ra đời trong bối cảnh nền kinh tế An Độ có sự phát triển mạnh mẽ, tạo nên những biến động lớn về mặt xã hội. Về kinh tế: Thế ky VI (TCN) An Độ đã là quốc gia phát triển. Công cụ sản xuất bằng sắt phổ biến.
Xã hội đã có sự phân công lao động giữa nông nghiệp, thủ công và thương nghiệp. Sự phát triển của sản xuất, sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguyên nhân khiến cho sự phân hóa và mâu thuẫn giai cấp ở An Độ trở nên sâu sắc. Chế độ đăng cấp, sự phân hóa giai cấp, dang cấp khắc nghiệt là một đặc điểm của xã hội An Độ. Xã hội tồn tại 4 đăng cấp: Tăng lữ (Brahma) hay còn gọi là dang cấp Bà la môn.
Day là đăng cấp cao nhất, thống trị đời sống tinh thần xã hội, có đặc quyền chính tri xã hội, đồng thời được coi là “Thần của nhân gian”. Dang cấp này vừa thực hiện chức năng thần quyền và một phan chức năng thế quyền. Quý tộc (Kshatrya): tầng lớp võ sỹ, quý tộc, những người thực hiện chức năng thế quyền, luôn chấp hành quyền lực thế tục, được coi là người bảo hộ của nhân dân. Tuy nhiên đăng cấp này luôn bị đăng cấp Bà la môn lan at.
Dân tự do (Vaisya): gồm nông dân, thợ thủ công, nhà buôn là lực lượng chính tạo ra của cải vật chất cho xã hội, có nghĩa vụ phải nộp thuế. Nô lệ (Shudra): nô lệ có nghĩa vụ phục tùng các đắng cấp trên. Khác với phương Tây, họ chủ yếu là nô lệ gia đình, làm công việc hầu hạ, phục dịch cho các đăng cấp trên. Sự phân hóa dang cấp trên tạo ra mâu thuẫn xã hội gay gắt va là nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc đấu tranh chống lại sự phân hóa đó, chống lại dang cấp cao nhất.
Tuy nhiên những cuộc đấu tranh đó không đạt được kết quả. Trên cơ sở đó Phật giáo ra đời với mong muốn đem lại sự bình đăng cho con người, song đó là sự bình đăng về tinh thần. Phật giáo ra đời trong thời kỳ văn minh Vêda có sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo. Về văn hóa: Thời kỳ này có những phát minh quan trọng về toán học, thiên văn học và đặc biệt là triết học.
Sự phát triển của triết học Ấn độ tạo tiền đề tư tưởng và lý luận cho Phật giáo ra đời. Phật giáo đã tiếp thu tư tưởng của các trào lưu triết học Án Độ: Luận về quan hệ Nhân — Quả của phái Sam khuya; Thuyết nguyên tử của phái Vaisêsika; Tư tưởng của đạo Bàlamôn quan niệm có tính thần bí như luân hồi, nghiệp báo; Đặc biệt là truyền thống tư duy trừu tượng đã đạt đến trình độ cao của tư duy Ấn Độ khi bàn đến các phạm trù Không — Hữu. Về tín ngưỡng tôn giáo, thời kỳ này ở An Độ đạo Bàlamôn giữ vai trò thông trị. Đạo Bàlamôn dé cao vai trò của dang tôi cao, hạ thâp vai trò con người, đặc biệt là tầng lớp thấp hèn.
Đây là một tôn giáo đề cao tuyệt đối hóa sự bất bình đăng giữa các đăng cấp. Đạo Phật ra đời là sự phản bác lại sự bat bình dang của Balamôn nhưng lại tiếp thu những quan niệm của Bàlamôn như: Nghiệp, kiếp, luân hồi. Người sáng lập Phật giáo là Thái tử Tat Đạt Da (624 — 544. TCN — hình 1), con vua Tinh Phan, tri vì nước Ca ty la vệ (Né Pan ngày nay).
Ông sống trong cuộc sống giàu sang nơi cung đình nên không biết những khổ cực, bất hạnh. Nhưng sau 4 lần trực tiếp ra ngoài thành, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của con người và quyết tâm noi theo gương các đạo sĩ đi tìm đường cứu khổ cho dân chúng. Năm 19 tuổi, ông bỏ nhà ra di dé trở thành một an tu. Sau 11 năm học đạo và khổ tu, ông nhận thay lối tu đó không thé giải thoát cho con người khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử.
Bằng sự kiên trì ông đã phát hiện ra con đường “trung dao” có thé dẫn con người tới giải thoát. Sau 49 ngày tư duy, ông tuyên bé đạt đến chân lý và hiểu được bản chat sự tồn tại của nhân sinh. Từ đó ông được gọi là Thích Ca Mau Ni- người giác ngộ chân lý đầu tiên. Và ông bắt đầu sự nghiệp hoăng bá của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo.
Những giáo lý mà Phật Thích Ca và các đệ tử của Ngài truyền bá đến quần chúng nhân dân có nội dung đề cập đến các vấn đề về: “Tứ diệu đế” và “Niết bàn”.Đó là quá trình lý giải van đề về khổ và sự diệt khổ dé đạt đến “Niết bản”. Về “Tứ diệu dé: “Tứ diệu đế” cắt nghĩa ban chat và nguyên nhân gây ra đau khổ và con đường khắc phục sự đau khổ. Bao gồm 4 nguyên nhân chính sau: Khổ đế: Bản chất của nhân sinh là khổ, nỗi khổ do con người tự gây nên. Gồm “Bát khổ”: Sinh khổ; Lão khổ: Bệnh khổ: Tử khổ: Sở cầu bat đắc khổ; Ái thụ biệt khổ; Oán tăng hội khổ; Ngũ uan khổ.
Tám cái khổ trên thuộc về quy luật sinh ton và quan hệ hiện thực của con người do vậy, thoát khổ chính là thoát khỏi quy luật sinh tồn và quan hệ hiện thực đó. Tập đế: Giải thích nguyên nhân đau khổ do sự ngu dốt (vô minh) và lòng khát ái (ái dục) của con người. Do vậy, con người sống, suy nghĩ và hành động không đứng đắn nên không thấy được thực tướng của vạn vật là giả, là huyễn. Từ nhận thức sai lầm, con người hành động sai lầm và lời nói sai lầm nên sinh ra đau khổ.
Tập đế gồm 10 nguyên nhân: Tham lam, giận dữ, si mê; kiêu mạn, nghi ngờ; biên kiến; tà kiến; kiến thủ; thân kiến; giới cam. Trong mười nguyên nhân trên có những nguyên nhân thuộc về quan hệ hiện thực, nhận thức và giới luật. Diệt đế: là kết quả hạnh phúc, giải thoát và an lạc. Diệt hết những nguyên nhân đau khổ trên, diệt khổ từ gốc, sống hạnh phúc và an vui.
Tức là ngộ Phật pháp sẽ đạt đến sự giải thoát khỏi đau khổ. Những nguyên nhân gây đau khổ đều do chính con người tạo ra, do vậy, chính con người là chủ thé của sự diệt khổ. Phat giáo dé cao con người trong việc quyết định số phận của mình. Tuy nhiên, hạn chế trong quan niệm này là cho rằng cái khổ của con người ở kiếp này có thể do kiếp trước gây nên, do đó tạo nên tính chất duy tâm trong Phật giáo.
Đạo Dé: là con đường tu dưỡng dé trở thành đạo (được giải thoát). Gồm tám con đường lớn gọi là “Bát chánh dao” (hay “Tam học”) gồm: Tuệ (Chính kiến, chính tư duy); Giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); Định (Chính tinh tắn,chính niệm, chính định). Niết bàn: là trạng thái vắng lặng, tịch diệt, nếu con người đạt tới thì sẽ sống an nhiên tự tại, vô ngã vị tha. Day là trạng thái lý tưởng, được hiểu theo hai cách: Niết bàn tôn tại ở nơi sau khi con người chết, nếu tu hành đắc đạo linh hồn sẽ được siêu thoát về thế giới Niết bàn.
Niết bàn cũng có nhiều bậc khác nhau. Hướng con người tới thê giới siêu nhiên. 10 Niết bàn có thé tồn tại ngay trong thế giới trần tục, con người có thé đạt tới khi loại bỏ được “tham, sân, sĩ”, thoát khỏi vô minh, sống an nhiên tự tạo, vô ngã vị tha. Hướng con người vào đời sông tran thé.
Đối lập với “Niết bàn” là “Địa ngục”. Sự tồn tại của “Niết bàn” và “Địa ngục” có giá trị chủ yếu về mặt hướng thiện, giáo dục đạo đức con người. Với tư tưởng từ bị hỉ xả, vô ngã vị tha, giáo lý hướng thiện, giàu tính nhân bản, Phật giáo đã nhanh chóng lan tỏa ra nhiều nước trên phạm vi toàn thé giới. Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế ky thứ I, thứ H sau CN thông qua sự giao lưu buôn bán của người Ấn và người Trung Hoa với người Việt.
Phật giáo được du nhập vào nước ta thời Bắc Thuộc theo hai con đường: Đường thuỷ và đường bộ. Qua đường bộ người Việt tiếp nhận Phật giáo một cách gián tiếp, qua đường thủy tiếp nhận một cách trực tiếp. Phật giáo du nhập vào Việt Nam là một quá trình liên tục từ thế ky I đến thé ky thứ VI. Sau này, thé ky X, XI va XVI, XVII Phật giáo còn được tiếp tục du nhập vào Việt Nam và có mặt trên khắp đất nước Việt.
Ở phía Bắc, Phật giáo du nhập vào trung tâm Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) và lan tỏa, phát trién dần sang các khu vực khác. Phật giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh các tín ngưỡng bản địa như thờ thần tự nhiên, thờ tổ tiên.phát triển khá mạnh, do vậy có sự tương tác, cùng chung sống giữa Phật giáo với các tín ngưỡng tôn giáo này, có sự hội nhập giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, Phật giáo đã được người Việt chấp nhận. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu du nhập đồng nhất giữa Trời với Thần với Phật, đề cao Phật Quan Thế Âm. Phật giáo du nhập vào Việt Nam thời kỳ đầu gồm các giáo phái chính: Thiền tông: là một tông phái Phật giáo do nhà sư An Độ Bồ Đề Dat Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 6.
"Thiền" là cách gọi tắt của "Thiền na" (Dhyana), có nghĩa là "Tĩnh tâm", chủ trương 11 tập trung trí tuệ dé quán định (thiền) nhằm dat đến chân lý giác ngộ của đạo Phật.