chương 1, chúng ta đã tìm hiểu và làm rõ hơn quan điểm về TKQĐ của C.Ănghen và hơn hết là quan điểm của V.Lênin về TKQĐ. Trong TKQĐ luôn đặt ra nhiều thách thức và rủi ro. Thực chất của TKQĐ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tiền TBCN và TBCN sang xã hội XHCN. Là thời kì cải biến cách mạng từ xã hội tiền tư bản và xã hội TBCN sang xã hội khác đó là xã hội XHCN.
Từ xã hội có áp bức, bốc lột, bất công sang một xã hội không còn áp bức, bốc lột, bất công. Một xã hội khẳng định hơn về quyền con người, mang giá trị nhân quyền và dân quyền. Song song đó cho chúng ta nhận ra được những đặc điểm trong TKQĐ lên CNXH. Và những đặc điểm đó đang xuất hiện trên đất nước, con người và xã hội ở Việt Nam.
Để tìm hiểu kỹ hơn quá trình quá độ đi lên XHCN ở Việt Nam ta tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá ở chương sau. 13 Chương 2 QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM – PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 2. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Nếu nhìn lại tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam chúng ta thấy rõ TKQĐ của miền Bắc bắt đầu từ năm 1954 sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và trong cả nước bắt đầu từ năm 1975 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn.
Đặc trưng cơ bản của quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Việt Nam tiến lên CNXH trong điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn đan xen, có những đặc trưng cơ bản: - Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp, đất nước trải qua chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều thập kỷ, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta. - Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau.
Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt. - Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, cho dù chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, song theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH. Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là sự lựa chọn đúng đắn nhất, khoa học nhất, phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam trong thời 14 đại ngày nay. Cương lĩnh năm 1930 của Đảng đã chỉ rõ: Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, sẽ tiến lên CNXH. Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của dân tộc, nhân dân, phản ánh xu thế phát triển của thời đại, phù hợp với quan điểm khoa học, cách mạng và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, như Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”7. Đây là tư tưởng mới, phản ánh nhận thức mới, tư duy mới của Đảng ta về con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Tư tưởng này cần được hiểu đầy đủ với những nội dung sau đây: - Thứ nhất, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường cách mạng tất yếu khách quan, con đường xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta. - Thứ hai, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN.
Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ quá độ còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư nhân TBCN và thành phần kinh tế tư nhân tư bản TBCN không chiếm vai trò chủ đạo; TKQĐ còn nhiều hình thức phân phối, ngoài phân phối theo lao động vẫn là chủ đạo còn phân phối theo mức độ đóng góp và quỹ phúc lợi xã hội; thời kỳ quá độ vẫn còn quan hệ bóc lột và bị bóc lột, song quan hệ bóc lột TBCN không giữ vai trò thống trị. - Thứ ba, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN đòi hỏi phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới CNTB, đặc biệt là những thành tựu về khoa học và công nghệ, thành tựu về quản lý để phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội, đặc biệt là xây dựng nền kinh tế hiện đại, phát triển nhanh lực lượng sản xuất. 7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 21.
15 - Thứ tư, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đem chủ nghĩa nhân văn vào quan niệm khoa học về CNXH, nhân tố quan trọng sâu xa nhất của CNXH là con người, đạo đức, văn hóa. CNXH Việt Nam mang tính nhân dân, tính dân tộc và giá trị nhân văn, trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân. Chính từ phương diện này, Tổng Bí thư đã làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH khoa học.
Quan điểm của Tổng Bí thư đã giúp chúng ta thêm hiểu rõ CNXH là một chế độ xã hội kiểu mới mà bản chất ưu việt là chế độ dân chủ và làm chủ thực chất, quyền phải được đảm bảo bởi lợi ích, nhu cầu thiết thân của người dân. Do đó, phải chăm lo xây dựng nhà nước dân chủ - pháp quyền, xây dựng thể chế luật pháp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân. Dân chủ không chỉ là mục đích, mục tiêu phấn đấu mà còn là động lực của CNXH, nhất là thực hành dân chủ, vì lợi ích và quyền lực của dân - những người chủ chân chính, đích thực của xã hội, gắn liền dân chủ với pháp quyền, trọng dân phải đi liền với trọng pháp. Đồng thời, sự nghiệp xây dựng CNXH là trách nhiệm của toàn dân, do đó phải phát huy sức mạnh, trách nhiệm, năng lực của mỗi người dân Việt Nam.
Đây là vấn đề mấu chốt để đi tới CNXH. Quan niệm này đặt nền tảng và giữ vai trò chủ đạo trong lý luận xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước. Về con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện rõ tinh thần lạc quan, niềm tin khoa học về thắng lợi tất yếu sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng chỉ rõ thách thức, khó khăn mà nhân dân ta phải vượt qua. Thành tựu đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Gần 30 năm đổi mới là một chặng đường lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, là sự nghiệp cách mạng to lớn của nhân dân Việt Nam vì “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (Hồ Chí 16 Minh), góp phần vào mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của thời đại. Nhận thức lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam: Trong quá trình đổi mới, nhờ nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát tình hình thực tiễn thế giới và trong nước, từng bước tổng kết thực tiễn khái quát lý luận, khắc phục những quan điểm ấu trĩ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí và bảo thủ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nâng cao nhận thức lý luận về CNXH, về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua hơn 30 năm đổi mới với 6 nhiệm kỳ đại hội Đảng, mỗi kỳ đại hội đánh dấu một bước tiến rõ rệt trong nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… trên con đường đổi mới theo định hướng XHCN. Những thành tựu lý luận về CNXH, về xây dựng CNXH ở Việt Nam được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ đi lên CNXH.