Năng lực trí tuệ của giảng viên KHXH&NV Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận văn năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trường sĩ quan chính trị trong đấu tranh tư

Trường đại học

Học viện Chính trị - Quân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực trí tuệ đội ngũ giảng viên KHXH NV

Năng lực trí tuệ (NLTT) của đội ngũ giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT) là yếu tố then chốt trong đấu tranh tư tưởng, lý luận (ĐTTTLL) hiện nay. NLTT thể hiện qua khả năng vận dụng tri thức chuyên ngành, kỹ năng phân tích, tổng hợp và năng lực phản biện trước các luận điểm sai trái. Đội ngũ giảng viên KHXH&NV đóng vai trò nòng cốt trong giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho học viên. Họ cần trang bị hệ thống kiến thức vững chắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng. NLTT còn bao gồm phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và khả năng truyền cảm hứng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, NLTT trở thành vũ khí sắc bén chống lại các quan điểm xuyên tạc, phản động.

1.1. Khái niệm năng lực trí tuệ trong lĩnh vực giáo dục chính trị

Năng lực trí tuệ trong giáo dục chính trị được định nghĩa là tổng hợp các phẩm chất cá nhân gồm kiến thức lý luận sâu rộng, kỹ năng tư duy phản biện và năng lực ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn. Đối với giảng viên KHXH&NV, NLTT bao gồm ba trụ cột chính: kiến thức chuyên môn vững vàng về khoa học xã hội, kỹ năng sư phạm linh hoạt và phẩm chất chính trị kiên định. NLTT không chỉ dừng lại ở khả năng truyền thụ tri thức mà còn thể hiện ở năng lực phân tích, đánh giá và định hướng tư tưởng. Giảng viên cần có khả năng nhận diện, phê phán các luận điểm sai trái, đồng thời xây dựng hệ thống luận cứ khoa học để bảo vệ quan điểm đúng đắn. NLTT còn gắn liền với tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và ý thức tự học, tự rèn luyện thường xuyên.

1.2. Vai trò của giảng viên KHXH NV trong đấu tranh tư tưởng

Giảng viên KHXH&NV Trường SQCT đóng vai trò trung tâm trong ĐTTTLL nhờ NLTT vượt trội. Họ là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, trực tiếp đối mặt với các quan điểm sai trái, thù địch. NLTT giúp họ xây dựng hệ thống giáo dục chính trị vững chắc, nâng cao nhận thức chính trị cho học viên. Giảng viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn định hình tư duy, thái độ chính trị đúng đắn. Họ góp phần tạo dựng môi trường học tập lành mạnh, thúc đẩy tinh thần đoàn kết, đấu tranh phê bình và tự phê bình. NLTT còn giúp giảng viên tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị hiệu quả, từ bài giảng đến các buổi tọa đàm, hội thảo. Nhờ NLTT, đội ngũ giảng viên trở thành lực lượng tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

II. Phân tích thực trạng năng lực trí tuệ đội ngũ giảng viên

Thực trạng NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT hiện nay tồn tại cả ưu điểm lẫn hạn chế đáng kể. Ưu điểm nổi bật là đa số giảng viên có trình độ chuyên môn vững vàng, am hiểu sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, công bố nhiều bài báo, đề tài có giá trị. NLTT được thể hiện qua khả năng giảng dạy sinh động, thu hút học viên. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như tình trạng thiếu đồng đều về NLTT giữa các giảng viên. Một số người chưa cập nhật kịp thời những diễn biến mới trong tư tưởng, lý luận, dẫn đến khả năng phản biện còn hạn chế. NLTT trong ĐTTTLL còn yếu ở khả năng tổ chức, điều phối các hoạt động tuyên truyền, giáo dục. Sự thiếu hụt về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác.

2.1. Những ưu điểm nổi bật trong NLTT hiện nay

NLTT của giảng viên KHXH&NV Trường SQCT thể hiện rõ qua trình độ chuyên môn cao, nhất là về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhiều giảng viên có khả năng nghiên cứu khoa học xuất sắc, công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. NLTT còn thể hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy với nghề và ý thức tự học thường xuyên. Giảng viên có khả năng giảng dạy sinh động, thu hút sự chú ý của học viên nhờ phương pháp sư phạm linh hoạt. NLTT còn được thể hiện qua phẩm chất đạo đức, tinh thần đoàn kết và tinh thần đấu tranh phê bình, tự phê bình trong nội bộ. Đội ngũ giảng viên cũng tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo.

2.2. Những hạn chế cần khắc phục trong NLTT

Bên cạnh những ưu điểm, NLTT của giảng viên KHXH&NV vẫn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục. Nhiều giảng viên chưa cập nhật kịp thời những diễn biến mới trong tư tưởng, lý luận, dẫn đến khả năng phản biện còn hạn chế. NLTT trong ĐTTTLL còn yếu ở khả năng tổ chức, điều phối các hoạt động tuyên truyền, giáo dục. Sự thiếu hụt về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. NLTT chưa đồng đều giữa các giảng viên, đặc biệt là giữa những người trẻ tuổi và những người có kinh nghiệm. Ngoài ra, NLTT còn yếu trong khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao. Những hạn chế này đòi hỏi sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt từ lãnh đạo nhà trường.

III. Giải pháp phát triển năng lực trí tuệ đội ngũ giảng viên

Để nâng cao NLTT cho đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp căn cơ. Trước hết, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho giảng viên. Tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng sư phạm, phương pháp nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, khuyến khích giảng viên công bố nhiều công trình nghiên cứu chất lượng. Xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu lành mạnh, khuyến khích tinh thần học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm. Đổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, tăng cường tương tác với học viên. Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức, điều hành các hoạt động giáo dục chính trị.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận

Giải pháp đầu tiên là tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho giảng viên. Nhà trường cần tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng. Đẩy mạnh nghiên cứu, cập nhật những vấn đề lý luận mới, những diễn biến phức tạp trong tư tưởng hiện nay. Tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các khóa học nâng cao tại các học viện, viện nghiên cứu uy tín. Khuyến khích giảng viên tham gia các hội thảo khoa học trong và ngoài nước để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời, xây dựng hệ thống tài liệu tham khảo phong phú, cập nhật thường xuyên. Giải pháp này nhằm đảm bảo giảng viên luôn nắm vững lý luận, đủ năng lực phản biện trước các quan điểm sai trái.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực nâng cao NLTT cho giảng viên KHXH&NV. Nhà trường cần đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy. Tổ chức các khóa đào tạo về ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Khuyến khích giảng viên sử dụng các phần mềm, ứng dụng hỗ trợ giảng dạy như PowerPoint, Prezi, Moodle. Xây dựng thư viện điện tử, kho tài liệu số phong phú, dễ dàng truy cập. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp giảng viên cập nhật thông tin nhanh chóng, đa dạng hóa phương pháp giảng dạy. Ngoài ra, công nghệ thông tin còn hỗ trợ giảng viên trong nghiên cứu khoa học, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí trực tuyến. Giải pháp này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

IV. Kết luận và khuyến nghị nâng cao NLTT

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là yếu tố quyết định hiệu quả ĐTTTLL hiện nay. Sau khi phân tích thực trạng, nhận thấy NLTT đã có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. NLTT không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn mà còn gắn liền với phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và khả năng ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn. Để nâng cao NLTT, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ đào tạo, bồi dưỡng đến ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới phương pháp giảng dạy. Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên phát triển NLTT. NLTT vững mạnh sẽ góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên toàn diện, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

4.1. Tầm quan trọng của NLTT trong giai đoạn mới

NLTT đóng vai trò then chốt trong giai đoạn hiện nay khi tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch tăng cường tấn công trên lĩnh vực tư tưởng. NLTT giúp giảng viên KHXH&NV nhận diện, phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nó còn góp phần xây dựng nhân cách, đạo đức cho học viên, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. NLTT mạnh mẽ sẽ nâng cao uy tín, vị thế của đội ngũ giảng viên, khẳng định vai trò nòng cốt trong ĐTTTLL. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, NLTT còn giúp giảng viên tiếp cận, ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến vào giảng dạy. Đây là yếu tố quyết định sự thành bại trong công tác giáo dục chính trị hiện nay.

4.2. Định hướng phát triển NLTT trong tương lai

Trong tương lai, NLTT của giảng viên KHXH&NV cần được phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và toàn diện. Nhà trường cần xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu mới, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, khuyến khích giảng viên công bố nhiều công trình nghiên cứu chất lượng, có ảnh hưởng trong lĩnh vực. Tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm với các học viện, viện nghiên cứu nước ngoài. Đổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng các phương pháp tiên tiến, tăng cường tương tác với học viên. Đặc biệt, chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức, điều hành. Giải pháp này nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên toàn diện, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trường sĩ quan chính trị trong đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ QUY ĐỊNH NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN 1. Quan niệm và vai trò năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận 1. Quan niệm năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận Quan niệm về năng lực, trí tuệ và năng lực trí tuệ Năng lực là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống và trong NCKH. Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là: 1.

Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2. Phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [43, tr. Trí tuệ, theo Từ điển Tiếng Việt, là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định [43, tr. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau trong định nghĩa về trí tuệ, nhưng các nhà tư tưởng đều nhấn mạnh đến khả năng nhận thức của con người.

Kế thừa những tư tưởng triết học trong lịch sử, chúng tôi quan niệm: Trí tuệ là khái niệm dùng để chỉ một dạng sức mạnh đặc trưng của con người dựa trên cơ sở vật chất là hoạt động của bộ não và vốn tri thức đã tích lũy, nhờ đó mà con người, cộng đồng người ngày càng nhận thức sâu sắc về thế giới và năng động, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực. Xét về dạng thức, với tính cách là kết quả hoạt động của bộ não người, trí tuệ tồn tại dưới hai dạng thức: dạng tiềm năng (tĩnh) và dạng năng lực hiện hữu (động). Khái niệm trí tuệ và khái niệm năng lực trí tuệ, về bản chất thống nhất dùng để phản ánh một dạng sức mạnh đặc trưng của con người. Tuy vậy, vẫn có sự khác nhau tương đối của hai khái niệm này.

Khái niệm trí tuệ dùng để 8 chỉ trạng thái tương đối tĩnh của trí tuệ với tư cách là một thực thể tồn tại dưới hai dạng thức: tiềm năng và năng lực. Còn khái niệm năng lực trí tuệ dùng để chỉ sức mạnh hiện thực của trí tuệ con người, biểu đạt cho trình độ phát triển trí tuệ của một chủ thể hoạt động cụ thể. Từ sự phân tích khái quát về năng lực và trí tuệ trên đây, chúng tôi quan niệm: năng lực trí tuệ là điều kiện chủ quan và khả năng hoạt động của trí tuệ trong việc tìm kiếm, khám phá, tích lũy tri thức và vận dụng tri thức vào giải quyết những nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra, đảm bảo cho hoạt động của con người đạt chất lượng, hiệu quả cao. Xét theo phương diện hệ thống kết cấu của các yếu tố bên trong, NLTT gồm 3 yếu tố cơ bản là: tri thức, phương pháp tư duy, khả năng sáng tạo.

Tri thức là yếu tố cơ bản, nền tảng cấu thành NLTT. Đó là sự hiểu biết của con người về thế giới và đời sống của con người; là những thông tin mà mỗi người lĩnh hội được về các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Phương pháp tư duy là hạt nhân trong cấu trúc của NLTT. Nó giữ vai trò quy định trực tiếp các kết quả nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan.

Khả năng sáng tạo là yếu tố đặc trưng cơ bản nhất của NLTT, là hệ quả tất yếu của mối quan hệ giữa tri thức với phương pháp tư duy khoa học. NLTT được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ bản như đã trình bày ở trên. Mỗi yếu tố có vị trí, vai trò nhất định trong sự hình thành, phát triển NLTT. Song, giữa chúng có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau, thúc đẩy nhau phát triển.

NLTT tồn tại như một chỉnh thể thống nhất 3 yếu tố, sự suy giảm hay mất đi của một yếu tố nào đều dẫn tới sự suy giảm trí tuệ. Điều đó tất yếu dẫn tới sự suy giảm hiệu quả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Quan niệm về NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT Trường Sĩ quan Chính trị có nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị, chính trị viên, giảng viên KHXH&NV cho toàn quân, đào tạo cán bộ chính trị cho quân đội của một số nước anh em (Lào, Campuchia); đồng thời, là trung tâm nghiên cứu, phát triển khoa học xã hội - nhân văn và các khoa học khác. Học viên được 9 đào tạo cơ bản, toàn diện để trở thành những sĩ quan chính trị, có trình độ cử nhân trở lên theo chuyên ngành đào tạo, có phẩm chất chính trị vững vàng, kiến thức cơ bản và năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ theo chức danh đào tạo, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nhà trường có ba đội ngũ cơ bản: những người làm công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và phục vụ; giảng viên; học viên. Trong đội ngũ giảng viên có bốn nhóm: giảng viên KHXH&NV; giảng viên khoa học quân sự; giảng viên chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ; giảng viên văn hóa, ngoại ngữ. Sự phân định này theo nhóm ngành chuyên môn mà giảng viên đảm nhiệm giảng dạy. Quan niệm về đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT Theo Từ điển Tiếng Việt, Khoa học xã hội và nhân văn, tên gọi chung các khoa học nghiên cứu những qui luật hình thành, hoạt động và phát triển của xã hội và con người, như: chính trị học, sử học, văn học, kinh tế học, luật học, ngôn ngữ học, đạo đức học.

Giảng viên là người làm công tác giảng dạy ở các trường trên bậc phổ thông hoặc các lớp đào tạo, huấn luyện [43, tr. Giảng viên KHXH&NV gồm những giảng viên giảng dạy các môn lý luận cơ bản, cơ sở và chuyên ngành, như: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nhà nước và pháp luật, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tâm lý học, Giáo dục học… Hoạt động của giảng viên là lao động sư phạm ở lĩnh vực đào tạo con người với các giá trị xã hội và nhân văn đích thực theo ngành, chuyên môn đào tạo. Bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên còn có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Đây là một trong những nhiệm vụ trực tiếp đặt ra ở các trường đào tạo bậc đại học.

Với lẽ đó, giảng viên là trí thức, hoạt động của họ là lao động trí óc có chuyên sâu, có trình độ học vấn cao, là những người có văn hóa và đạo đức cao, tích cực tham gia vào đời sống xã hội. Trong quân đội, theo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là sĩ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam [31, tr. 10 Từ cách tiếp cận trên có thể quan niệm: Đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là những trí thức, những cán bộ chính trị đang đảm nhiệm công tác giảng dạy các môn KHXH&NV ở Nhà trường; là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, chính trị viên và giảng viên KHXH&NV quân sự. Cũng như những giảng viên KHXH&NV ở các học viện, nhà trường trong cả nước, đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là những trí thức, được đào tạo cơ bản trong hệ thống giáo dục quốc gia, có trình độ đại học trở lên.

Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ và môi trường hoạt động mang tính đặc thù nên đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT có những điểm khác biệt so với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng dân sự nói chung và đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nói riêng. So với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học ngoài quân đội, yêu cầu khách quan đặt ra bên cạnh trình độ, năng lực giảng dạy của giảng viên KHXH&NV, ở đội ngũ giảng viên Trường SQCT còn có phẩm chất của người cán bộ quản lý, chuyên gia NCKH thuộc lĩnh vực chuyên môn. Người giảng viên KHXH&NV Trường SQCT vừa là nhà trí thức, đồng thời lại là sĩ quan chính trị. Điểm khác biệt căn bản này do chính môi trường công tác có tính đặc thù trong quân đội quy định đối với đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT so với đội ngũ giảng viên ở các trường dân sự.

Sự khác biệt giữa đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT với đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các học viện, nhà trường trong toàn quân. Đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT cũng giống như những giảng viên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội. Họ cũng là những trí thức, những sĩ quan chính trị, song do chức năng nhiệm vụ đào tạo của mỗi học viện, nhà trường khác nhau và môi trường công tác khác nhau đã quy định phẩm chất và năng lực của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT có điểm khác biệt so với giảng viên ở các trường khác. Nếu sản phẩm của các học viện, nhà trường khác trong toàn quân là học viên sau khi tốt nghiệp ra 11 trường sẽ trở thành những sĩ quan chỉ huy, sĩ quan kỹ thuật, sĩ quan hậu cần… theo chuyên ngành đào tạo thì sản phẩm của Trường SQCT là những cán bộ chính trị, chính trị viên và giảng viên KHXH&NV quân sự.

Nếu các khoa KHXH&NV ở các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy - kỹ thuật là những khoa chung gồm nhiều bộ môn ghép lại, thì các khoa KHXH&NV ở Trường SQCT lại là những khoa chuyên ngành. Do đó, yêu cầu khách quan đòi hỏi đội ngũ giảng viên này phải có một trình độ kiến thức KHXH&NV chuyên sâu, năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học tốt và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cao hơn hẳn so với đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các học viện, nhà trường khác trong toàn quân mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Từ những phân tích trên đây, chúng tôi quan niệm: NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là khả năng nắm vững, làm chủ tri thức khoa học, vận dụng tri thức đó vào giải quyết những nhiệm vụ do cuộc sống và công tác đặt ra, đáp ứng với yêu cầu của hoạt động giảng dạy chuyên ngành KHXH&NV trong lĩnh vực quân sự, đảm bảo cho hoạt động của đội ngũ này đạt chất lượng và hiệu quả cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ