CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển thiền phái Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm được hình thành trên cơ sở những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá nhất định trong tiến trình lịch sử nước nhà. Triều đại nhà Lý sụp đổ, nhà Trần lên cầm quyền (1226 – 1399), sau khi lên nắm quyền triều đại nhà Trần chủ trương thiết lập một hệ tư tưởng mới cho riêng mình nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc về ý thức hệ với nước ngoài, thống nhất ý thức dân tộc và duy trì trật tự xã hội.
Việc thiết lập tư tưởng mới, nhà Trần không phủ nhận những giá trị tư tưởng của triều đại nhà Lý trước đó. Vì vậy, trong tác phẩm “Khóa hư lục” của Trần Thái Tông, Ông trình bày những học thuyết của mình cũng dựa trên cơ sở những tư tưởng của nhà Lý. Ngoài ra, ý tưởng sáng lập một hệ tư tưởng mới của nhà Trần trải qua ba cuộc chiến tranh xâm lược chống quân Mông – Nguyên, tiếp diễn đến đời vua Trần Nhân Tông – người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm ra đời trong hoàn cảnh mà nền văn hoá, tư tưởng của Việt Nam lúc đó chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc.
Ba Thiền phái trước đó là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường là những Thiền phái mang màu sắc Ấn Độ và Trung Quốc. Tư tưởng văn hoá bao trùm là Phật giáo và Nho giáo. Nhà Trần luôn đề cao ý thức độc lập dân tộc tự cường của nước Đại Việt, điều này đòi hỏi cần có một ý thức hệ độc lập tương ứng. Chính vì vậy mà Phật giáo phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời để đáp ứng những yêu cầu của dân tộc.
Hoàn cảnh kinh tế xã hội cũng đã có những tác động nhất định đối với sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm. Giai đoạn triều đại nhà Trần cầm quyền, nhà nước cho phép bán ruộng công thành ruộng tư. “Năm 1254 triều đình cho phép bán ruộng công làng xã làm ruộng tư, mỗi diện (mẫu) 5 quan” [12: 82]. Từ đó, ruộng đất biến thành hàng hoá và việc mua bán cướp đoạt ruộng đất trong giới quý tộc cũng như trong nhân dân trở nên phổ biến dưới triều đại nhà Trần.
Việc sở hữu tư nhân về ruộng đất trong suốt chiều dài lịch sử nhà Trần đã tạo nên những biến đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội. Ngoài ra, nhà Trần một mặt thi hành chính sách hôn nhân trong dòng tộc nên phần lớn giai cấp lãnh đạo then chốt trong điều đình là người nhà Trần. Nhưng mặt khác, do đòi hỏi của hoàn cảnh lịch sử mà trong giai cấp lãnh đạo luôn có sự bổ sung những người ngoài tông tộc – những nhà Nho trí thức. Từ đây giai cấp quý tộc nhà Trần đã có sự NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SVTH: NGUYỄN HỒNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 10 GVHD: TS.
NGUYỄN PHƯƠNG LAN phân hoá. Một bên là tôn thất nhà Vua có thế lực và sản nghiệp, có khuynh hướng ủng hộ Phật giáo và một bên là ngoại tộc đi lên bằng tài năng trí tuệ và đề cao Nho giáo. Chính vì sự đả kích phủ nhận Phật giáo của giới Nho sĩ, nên giới quý tộc tôn thất nhà Trần luôn dùng quyền lực chính trị cũng như thế lực kinh tế để chấn hưng Phật giáo, nhằm tạo thế vững chắc cho triều đình, tạo được sự đồng lòng của nhân dân để duy trì trật tự xã hội. Vì vậy, dưới triều đại nhà Trần Phật giáo luôn phát triển rực rỡ.
Quá trình hình thành và phát triển Thiền Phái Trúc Lâm là một quá trình lịch sử lâu dài gắn liền với từng giai đoạn thăng trầm của lịch sử dân tộc. Thiền phái Trúc Lâm là một dòng thiền chính thống của Việt Nam đời nhà Trần, do vua Trần Nhân Tông (1278 – 1308) khai sáng. “Vua Trần Nhân Tông không chỉ được biết đến là vị vua anh minh, một anh hùng dân tộc mà còn là một nhà tu hành mẫu mực” [37]. Thiền phái Trúc Lâm được xem là sự tiếp nối của phái Thiền Yên Tử.
Tông phái Thiền Yên Tử xuất phát từ chùa Vân Yên (sau đổi thành Hoa Yên) ở núi Yên Tử mà vị Tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang (Thiền sư Hiện Quan là đệ tự của Thiền sư Thường Chiếu và là vị Tổ đầu tiên của dòng thiền Yên Tử). Sau khi Thiền sư Hiện Quang viên tịch, vị Tổ thứ hai của phái thiền Yên Tử là Thiền sư Viên Chứng (hiệu Trúc Lâm) là người thầy của Vua Trần Thái Tông, vị Tổ truyền thứ ba là Đại Đăng Quốc sư, Ngài đã từng về kinh thành Thăng Long để hành đạo và tiếp nhận thêm dòng Thiền Lâm Tế từ Thiền Sư Thiên Phong người Trung Hoa. Tiêu Dao Tổ sư (người thầy của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng là người truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi xuất gia) là vị tổ thứ tư của phái Thiền Yên Tử, vị tổ thứ năm của phái Thiền Yên Tử là Thiền sư Huệ Tuệ. Theo dòng truyền Yên Tử thì Đại đầu đà Trúc Lâm – Phật Hoàng Trần Nhân Tông thuộc thế hệ thứ sáu, Ngài đã thống nhất ba dòng Thiền trước đó ở Việt Nam, đó là Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thiền Thảo Đường thành Thiền phái Trúc Lâm và trở thành Sơ Tổ đầu tiên của Thiền phái.
Tuy nhiên “Ông (Trần Nhân Tông) vẫn tự xem mình là Tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử” [30: 107]. Như vậy, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là sự tiếp nối, phát triển và dung hợp tất cả các dòng Thiền lại với nhau tạo nên nền tảng Phật giáo chính thống của Việt Nam. Phật Hoàng Trần Nhân Tông (là con của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu) mộ đạo từ khi còn nhỏ. Thuở thiếu thời, Ngài theo học Thượng sĩ Tuệ Trung và tư tưởng triết lý của Ngài cũng bị ảnh hưởng bởi người thầy của mình, chính Thượng sĩ Tuệ Trung là người giúp vua Trần Nhân Tông nhận được NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SVTH: NGUYỄN HỒNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 11 GVHD: TS.
NGUYỄN PHƯƠNG LAN tông chỉ thiền, khi Ngài Thượng sĩ đáp về tông chỉ thiền “Phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tùng tha đắc” có nghĩa là soi sáng lại chính bản thân mình là cái gốc, không từ bên ngoài mà có được. Năm Ngài 21 tuổi lên ngôi Hoàng Đế (1279) lấy hiệu là Nhân Tông. Ngài phải cầm quân đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông hai lần (năm 1285 và năm 1288). Năm 35 tuổi, Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông (năm 1293), năm 41 tuổi Ngài vào núi Yên Tử xuất gia tu hành, lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà và trở thành Tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử [23: 231, 232].
Như vậy, xét theo dòng truyền Yên Tử thì Đại Đầu Đà thuộc thế hệ sáu, do Ngài có một trí tuệ đặc biệt và tri thức Phật học sâu sắc, Ngài đã thống nhất các Thiền phái đã có thành một Thiền phái Trúc Lâm và trở thành Tổ đầu tiên của dòng Thiền này. Từ đây dân tộc Việt Nam có một Thiền phái với vị Tổ sư là người Việt Nam. Có thể nói, đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng, như nhận định của Nguyễn Lang: “Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hóa Việt Nam độc lập, nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ được cá tính đặc biệt của mình” [6: 482].
Quá trình phát triển của Thiền phái Trúc Lâm gắn liền với sự hưng thịnh của triều đại nhà Trần và hoạt động truyền giáo của tam Tổ Trúc Lâm. Sau khi xuất gia, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, đã đi khắp nơi trong nước giảng giải về đạo đức về mười điều Thiện của Phật giáo (Thập thiện). “Năm Giáp thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Điều Ngự (Trần Nhân Tông) đi khắp thôn quê, khuyên dân chúng phá bỏ các dâm từ (Những nơi thờ tự các tượng thần lõa thể và sinh thực khí), và thực hành giáo lý Thập thiện” [30: 117]. Việc làm của Trần Nhân Tông nhằm phổ biến giáo lý Phật giáo trên đất nước, xây dựng xã hội theo nền tảng Phật giáo.
Đặc biệt bản thân Ngài là một vị Vua, đã vứt bỏ nếp sống vàng ngọc của một vị Vua theo một nếp sống thực sự đạo hạnh, giản dị và trong sáng của một nhà tu hành. Vì vậy, những giáo lý của Ngài nhanh chóng thâm nhập vào đời sống của nhân dân và tạo sự phát triển vững chắc của Thiền phái Trúc Lâm. Trong công cuộc xây dựng và phát triển Thiền phái Trúc Lâm, Trần Nhân Tông nhận thấy cần phải có người để kế vị mình trong việc phát triển Thiền phái. Tuy nhiên, tìm người kế vị không chỉ cần người có học, có đức mà còn có tài năng tổ chức để giúp cho Thiền phái phát triển.
Trong quá trình đi truyền đạo của NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SVTH: NGUYỄN HỒNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 12 GVHD: TS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN mình tại thôn Nam Sách, Trần Nhân Tông đã gặp Đồng Kiên Cương (Nhị Tổ Pháp Loa). Nhận thấy được tài năng, trí tuệ cũng như đạo đức của Đồng Kiên Cương. Đồng Kiên Cương đã trở thành nhị Tổ Trúc Lâm, lấy pháp hiệu là Pháp Loa.
Nhị Tổ Pháp Loa là người rất thông minh, trí tuệ, mới sinh ra đã có biểu hiện của sự quy y. Thiền phái Trúc Lâm dưới sự hướng dẫn của nhị Tổ Pháp Loa cũng phát triển rất mạnh: “Trong thời gian Pháp Loa hành đạo, số lượng tự viện của giáo hội Trúc Lâm tăng lên rất nhiều, phong trào học Phật lan rộng, số lượng người xuất gia và quy y cũng tăng nhanh chóng, trong giới quyền quý cũng có nhiều người xuất gia hoặc quy y. Nhưng Phật sự đáng kể nhất của đời Pháp Loa là ấn hành Đại tạng Kinh” [6: 314]. Ngoài nhị Tổ Pháp Loa, sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm có sự đóng góp lớn của Tam Tổ Huyền Quang.
Năm 1317, được Pháp Loa truyền tâm ấn, ngài trụ trì ở chùa Vân Yên núi Yên tử [23: 265]. Nơi đây đã qui tụ hàng nghìn tăng theo học. Ngài cũng in kinh, mở hội bố thí cho những người nghèo khổ….