Luận văn thạc sĩ: Quản lý hoạt động rèn luyện thể lực học viên CĐKT Hải quân

Giới thiệu quy trình và phương pháp quản lý hoạt động rèn luyện thể lực tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải quân, Bộ Tư lệnh Hải quân, đảm bảo sức khỏe và sẵn

Trường đại học

Đại học Thủ Dầu Một

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

167
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý hoạt động rèn luyện thể lực học viên

Hoạt động rèn luyện thể lực (HĐRLTL) đóng vai trò cốt lõi trong chương trình đào tạo tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Quân. Đây không đơn thuần là vấn đề sức khỏe. Mục tiêu sâu xa là nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của học viên. Quân chủng Hải Quân đặt ra yêu cầu đặc thù về thể lực. Người chiến sĩ phải chịu được điều kiện khắc nghiệt trên biển. Quản lý HĐRLTL bao gồm nhiều yếu tố. Có kế hoạch đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và đánh giá kết quả. Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Quân trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải Quân. Nhà trường đào tạo nhiều đối tượng khác nhau. Từ hệ cao đẳng dài hạn đến tập huấn ngắn hạn. Mỗi đối tượng có yêu cầu thể lực riêng biệt. Quản lý hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận. Cần có quy trình khoa học và đánh giá thường xuyên. Kết quả rèn luyện thể lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của nhà trường.

1.1. Vai trò của rèn luyện thể lực trong đào tạo quân sự

Rèn luyện thể lực là nền tảng xây dựng người chiến sĩ Hải Quân hoàn chỉnh. Hoạt động này giúp học viên hình thành phẩm chất kiên trì, vượt khó. Thể lực tốt đảm bảo khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện khắc nghiệt trên biển. Học viên phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần. Tinh thần kỷ luật, tác phong chính quy được rèn luyện qua mỗi buổi tập. Năng lực sẵn sàng chiến đấu tăng lên rõ rệt. Đây là yêu cầu bắt buộc trong đào tạo quân sự. Không thể tách rời thể lực khỏi chất lượng chiến đấu.

1.2. Đặc điểm hoạt động rèn luyện thể lực tại trường kỹ thuật hải quân

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Quân có đặc điểm riêng biệt trong đào tạo. Học viên được huấn luyện thể lực theo chuyên ngành Hải Quân. Nội dung bao gồm bơi lội, chiến thuật trên biển, thể lực chung. Cơ sở vật chất gồm hồ bơi, bãi tập thể lực, bãi tập chiến thuật. Đội ngũ giảng viên có trình độ từ đại học trở lên. Thời gian đào tạo dao động từ 1,5 tháng đến 3 năm tùy đối tượng. Chương trình rèn luyện gắn liền với nhiệm vụ tác chiến hải quân. Tính đặc thù này đòi hỏi phương pháp quản lý phù hợp.

II. Phân tích thực trạng quản lý hoạt động rèn luyện thể lực

Thực trạng quản lý HĐRLTL tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Quân cho thấy nhiều kết quả tích cực. Nhà trường đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất khá hoàn thiện. Có 84 phòng học, 1 hải đội tàu, xưởng thực hành và thư viện điện tử. Hồ bơi và bãi tập được đầu tư đáp ứng nhu cầu đào tạo. Đội ngũ giảng viên gồm 166 người, trong đó có 4 tiến sĩ và 48 thạc sĩ. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế. Nhận thức của một số học viên về tầm quan trọng của RLTL chưa đầy đủ. Phương pháp đánh giá kết quả còn đơn điệu. Nội dung huấn luyện đôi khi chưa bám sát yêu cầu thực tế nhiệm vụ. Công tác quản lý chưa đồng bộ giữa các khâu. Sự phối hợp giữa bộ phận đào tạo và hậu cần còn khoảng cách. Việc theo dõi tiến bộ thể lực cá nhân chưa được quan tâm đúng mức. Đây là những vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả quản lý.

2.1. Điểm mạnh trong công tác quản lý hiện tại

Nhà trường có nền tảng cơ sở vật chất vững chắc phục vụ đào tạo. Đội ngũ giảng viên đông đảo với trình độ chuyên môn cao. Ban Giám hiệu thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác RLTL. Chương trình đào tạo được xây dựng bài bản theo quy định của Bộ Quốc phòng. Nhà trường đã triển khai nhiều hình thức rèn luyện đa dạng. Kết quả đào tạo được kiểm định qua các kỳ sát hạch định kỳ. Tỷ lệ học viên đạt yêu cầu thể lực tương đối ổn định qua các năm. Đây là tiền đề quan trọng để cải thiện công tác quản lý.

2.2. Hạn chế và thách thức cần khắc phục

Một số học viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò của RLTL. Động lực rèn luyện tự giác còn thấp, phụ thuộc vào yêu cầu bắt buộc. Phương pháp đánh giá nặng về định lượng, thiếu đánh giá quá trình. Cơ sở vật chất tuy đầy đủ nhưng cần nâng cấp một số hạng mục. Công tác quản lý dữ liệu thể lực học viên chưa ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Ngân sách đầu tư cho hoạt động TDTT còn hạn chế. Sự liên kết giữa nhà trường và gia đình trong giám sát RLTL chưa chặt chẽ. Những hạn chế này cần được giải quyết từng bước.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động rèn luyện thể lực

Để nâng cao hiệu quả quản lý HĐRLTL, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định về RLTL. Xây dựng chương trình huấn luyện phù hợp từng đối tượng học viên. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý theo dõi kết quả rèn luyện. Đổi mới phương pháp đánh giá, kết hợp định lượng và định tính. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện. Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho học viên. Xây dựng môi trường rèn luyện lành mạnh, tạo động lực nội sinh. Tổ chức các hoạt động thể thao phong trào sôi nổi. Tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị trong nhà trường. Hợp tác với các cơ sở y tế để theo dõi sức khỏe học viên. Đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp thời. Mỗi giải pháp cần có lộ trình thực hiện cụ thể. Có phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng bộ phận.

3.1. Hoàn thiện hệ thống quản lý và chương trình đào tạo

Xây dựng quy chế quản lý RLTL rõ ràng, chi tiết. Ban hành tiêu chí đánh giá kết quả rèn luyện cụ thể cho từng hệ đào tạo. Thiết kế chương trình huấn luyện thể lực gắn với đặc thù Hải Quân. Nội dung bao gồm thể lực chung, bơi lội, kỹ năng chiến đấu trên biển. Phân loại đối tượng học viên để áp dụng giáo án phù hợp. Thiết lập hệ thống quản lý dữ liệu bằng phần mềm chuyên dụng. Theo dõi tiến bộ thể lực từng học viên qua các kỳ đánh giá. Điều chỉnh chương trình dựa trên kết quả thực tế.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ và đầu tư cơ sở vật chất

Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn định kỳ cho giảng viên thể lực. Đưa giảng viên đi tập huấn tại các đơn vị đầu ngành. Đầu tư trang thiết bị tập luyện hiện đại, phù hợp yêu cầu mới. Nâng cấp bãi tập, hồ bơi theo tiêu chuẩn quân đội. Xây dựng phòng y tế thể thao phục vụ kiểm tra sức khỏe. Tạo điều kiện cho giảng viên nghiên cứu khoa học về RLTL. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân đạt thành tích cao. Xây dựng văn hóa rèn luyện thể lực trong toàn trường.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về quản lý HĐRLTL học viên trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Quân mang lại nhiều kết quả có giá trị. Quản lý hiệu quả hoạt động này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Học viên phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Khả năng sẵn sàng chiến đấu được cải thiện rõ rệt. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao. Chúng phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các trường quân sự khác. Đặc biệt là các đơn vị thuộc Quân chủng Hải Quân. Định hướng nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào ứng dụng công nghệ. Quản lý thông minh, số hóa dữ liệu thể lực là xu hướng tất yếu. Cần tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng hiện đại hóa. Xây dựng mô hình quản lý RLTL tiên tiến, phù hợp với yêu cầu mới. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp bảo vệ biển đảo.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng lý luận về quản lý giáo dục thể chất quân sự. Cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách đào tạo. Kết quả áp dụng trực tiếp vào thực tế tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải Quân. Mô hình quản lý có thể nhân rộng cho các trường quân sự toàn quân. Nghiên cứu giúp nhà trường nhìn nhận rõ điểm mạnh, hạn chế. Từ đó có hướng điều chỉnh phù hợp. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Hải Quân.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Xu hướng quản lý hoạt động RLTL chuyển dần sang ứng dụng công nghệ số. Thiết bị đeo thông minh giúp theo dõi chỉ số sức khỏe thời gian thực. Phần mềm quản lý tích hợp dữ liệu đào tạo toàn diện. Chương trình RLTL cần cập nhật theo khoa học thể thao hiện đại. Hợp tác quốc tế trong đào tạo thể lực quân sự là hướng đi cần khai thác. Xây dựng trung tâm nghiên cứu thể lực Hải Quân chuyên nghiệp. Đầu tư nguồn lực dài hạn để phát triển bền vững. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao sức chiến đấu của quân đội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Quản lý hoạt động rèn luyện thể lực của học viên trường cao đẳng kỹ thuật hải quân bộ tư lệnh hải quân

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN THỂ LỰC CỦA HỌC VIÊN TRONG TRƯỜNG QUÂN SỰ 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động rèn luyện thể lực của học viên trong trường quân sự Trong lịch sử phát triển của giáo dục, từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, ngoài các chương trình đào tạo kiến thức lí thuyết, luôn có các chương trình, hoạt động ngoại khóa được đưa vào nhằm mục đích nâng cao thể trạng, sức khỏe của học viên, vì thế luôn giành được sự quan tâm nghiên cứu nhất định. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, vấn đề này được nghiên cứu, đề cập ở các góc độ khác nhau. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Theo the Great Soviet Encyclopedia nhận định việc rèn luyện thể chất thể chất là một bộ phận của nền văn hoá chung của nhân loại, là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, đươc sáng tạo nên và sử dụng hợp lí nhằm hoàn thiện sức mạnh thể chất cho con người với mục đích phát triển những kỹ năng cơ bản cho hoạt động sống hàng ngày (dẫn theo Phan Quốc Chiến, 2018).

Ngoài ra, nghiên cứu của Lapenna, Barry, Feldbrugge, Ginsburgs và Maggs (1982) cũng chỉ ra là một trong những quyền cơ bản của con người. Việc rèn luyện thể chất (văn hóa thể chất) có hiệu quả là giúp con người năng động hơn trong tất cả các hoạt động của đời sống, nâng cao hiệu suất công việc. Văn hóa thể chất là một nhân tố xã hội, tác động đến sự phát triển thể chất. Văn hóa thể chất là một hoạt động đặc biệt, bao gồm 3 luận điểm cơ bản, gồm: 1) Văn hóa thể chất là một hoạt động; 2) Văn hóa thể chất là một hoạt động tổng hòa những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để hoạt động; và 3) Văn hóa thể chất là kết quả của hoạt động.

Theo Mandel (2004) hoạt động rèn luyện thể chất là tất cả các loại hình hoạt động thể chất và trò chơi có tính cạnh tranh, với mục đích sử dụng, duy trì và cải thiện các kĩ năng và năng lực thể chất, đem lại niềm vui, hứng khởi cho những người tham gia và sự giải trí cho người xem. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng một môn thể thao cần phải hội tụ đủ các yếu tố sau: 1) Mang tính cạnh tranh; 2) Không gây hại tới bất kì sinh vật nào; 3) Không độc quyền; 3) Không phụ thuộc vào yếu tố "may mắn". 7 Tại Trung Quốc, trong suốt hơn 60 năm kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, lịch sử phát triển của giáo dục thể chất trong trường học ở Trung Quốc có thể được chia ra làm 7 giai đoạn, bao gồm: Học hỏi và tham khảo (từ tháng 10 năm 1949 đến tháng 8 năm 1956), Phát triển thăng trầm (từ tháng 9 năm 1956 đến tháng 4 năm 1966) Suy giảm nghiêm trọng (từ tháng 5 năm 1966 đến tháng 9 năm 1976), Phục hồi và tái thiết (từ tháng 10 năm 1976 đến tháng 8 năm 1985) Tạo dựng và khai thác (từ tháng 9 năm 1985 đến tháng 9 năm 1992), Hấp thụ và phát triển (từ tháng 10 năm 1992 đến tháng 5 năm 1999), Cải cách và hoàn thiện hơn (từ tháng 6 năm 1999 đến nay). Qua các giai đoạn trên chúng ta có thể thấy mục tiêu của giáo dục thể chất đã phản ánh nền tảng xã hội và nó cũng thể hiện sự phát triển thăng trầm của giáo dục thể chất trong các trường học ở Trung Quốc.

Mục tiêu phát triển đã được chuyển từ phục vụ “chính trị” sang phục vụ “con người”; nội dung triển khai cụ thể cũng được chuyển từ “yêu cầu đòi hỏi”, điều rất khó thực hiện sang thành phù hợp với mỗi cá nhân, điều có thể dễ dàng thực hiện hơn. Mục tiêu của hệ thống giáo dục thể chất và sức khỏe cũng đã được thiết lập có liên quan tới việc tham gia vào hoạt động thể thao, các kỹ năng thể thao, sức khỏe thể chất, rèn luyện tinh thần và các kỹ năng xã hội tương ứng. Nó cũng nhấn mạnh tới việc chúng ta cần quan tâm đến việc rèn luyện tinh thần và trang bị cho các học sinh các kỹ năng xã hội tương ứng (Tổng cục Thể dục thể thao Trung Quốc, 2010). Tại Nhật Bản, kể từ năm 1947 cho tới nay định hướng Giáo dục thể chất trong các trường học ở Nhật Bản đã trải qua 9 lần sửa đổi bổ sung.

Theo các mục tiêu cơ bản của Giáo dục thể chất trong các trường học, quá trình phát triển của giáo dục thể chất trong trường học ở Nhật Bản có thể được chia ra làm 4 giai đoạn, bao gồm: Hình thành các môn thể thao mới (1947-1957); Nâng cao tầm vóc (1958-1976); Phát triển hoạt động thể thao (1977-2008); Giai đoạn phát triển từ 2009 cho đến nay. Bị ảnh hưởng tác động bởi yêu cầu về thời gian, các mục tiêu giáo dục thể chất trong các trường học ở Nhật Bản được đề ra dựa trên sự tuân thủ các Quy định về phát triển thể chất. Định hướng mục tiêu giáo dục thể chất trong các trường học ở Nhật Bản sẽ được điều chỉnh 10 năm một lần hoặc lâu hơn. Nó có vai trò quan trọng quyết định tính hệ thống của các mục tiêu giáo dục, bao gồm cả các mục tiêu cuối cùng, mục tiêu cụ thể và mục tiêu giảng dạy của mỗi bài hay mỗi giờ lên lớp (Phan Quốc Chiến, 2010).

8 Bên cạnh đó nó cũng nhấn mạnh tới sự chặt chẽ và gắn kết của các mục tiêu giáo dục, cũng như nội dung và phương pháp giảng dạy. Tùy thuộc vào độ tuổi của học sinh trong các trường tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học, các mục tiêu cụ thể tương ứng sẽ được đưa ra trong các bối cảnh và lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, mục tiêu cuối cùng của Định hướng giáo dục thể chất trong các trường trung học ở Nhật Bản vào năm 1998 là vươn tới sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, tạo nên một “tình yêu” dành cho các hoạt động thể dục thể thao và các chương trình rèn luyện thân thể mà sẽ giúp tăng cường sức khỏe, nâng cao sức mạnh thể chất và xây dựng một lối sống tích cực thông qua việc áp dụng một cách hợp lý các bài tập thể lực và sự hiểu biết về hoạt động thể chất, sức khỏe và đảm bảo an toàn vệ sinh. Nghiên cứu của Sergienko và Andreianov (2013) chỉ ra việc xây dựng các mô hình sẵn sàng cho nghề nghiệp, cụ thể là các chương trình đào tạo về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và chức năng dựa trên phương pháp tích hợp.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 60 sinh viên của học viên trong trường quân đội gồm 30 người trong nhóm đối chứng và thực nghiệm. Để xác nhận tính hiệu quả của phương pháp đã phát triển, nghiên cứu sử dụng việc kiểm tra các phẩm chất thể chất, bảng câu hỏi tâm lý, nghiên cứu các quá trình nhận thức, cũng như các bài kiểm tra chức năng. Nghiên cứu cho rằng lúc bắt đầu thí nghiệm giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm không có sự khác biệt đáng kể về tất cả các chỉ tiêu. Sau khi nghiên cứu, nhóm thực nghiệm đã có sự cải thiện về hiệu suất so với nhóm đối chứng.

Như vậy bình quân về thể lực tăng 9,34%, tố chất trí lực tăng 21,25%, khả năng sinh lý tăng 14,7% và khả năng sẵn sàng hoạt động tăng 21,13%. Mô hình cho phép nâng cao kết quả cá nhân của học viên để xây dựng các mô hình đặc trưng cho sự sẵn sàng chuyên nghiệp của các sĩ quan tương lai, cũng như tăng các quy trình thích ứng của tất cả các hệ thống đối với các hoạt động phục vụ và chiến đấu. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Terziev và Nichev (2017) cho thấy việc thực hiện các mục tiêu và ưu tiên của Chiến lược “An ninh Quốc gia” và Chiến lược “Quốc phòng”, cũng như việc thực hiện các hoạt động trong Chương trình Quốc gia "Bungari trong NATO và Quốc phòng Châu Âu - 2020", và Kế hoạch Đầu tư-Chương trình của Bộ Quốc phòng đến năm 2020 đặt ra những nhiệm vụ mới đối với hệ thống giáo dục quân sự của Cộng hòa Bulgaria và đặc biệt là đối với công tác chuẩn bị sĩ quan. Các nhiệm vụ có 9 tính chất phức tạp và bao gồm: nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của giáo dục quân sự, nâng cao sự hài lòng của cá nhân học viên trong quá trình đào tạo, và cải tiến tổ chức và nội dung đào tạo chuyên nghiệp quân sự của các sĩ quan tương lai.

Giáo dục quân sự là một hệ thống phức tạp, thích ứng và linh hoạt được phát triển thống nhất với hệ thống bổ trợ của giáo dục công dân ở Bulgaria. Do đó, việc xây dựng các chương trình đào tạo cần chú ý đến hoạt động rèn luyện thể chất cho các học viên trong các trường quân sự nhằm góp phần đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu quốc phòng của quốc gia. Tình hình nghiên cứu trong nước Từ khi cha ông ta dựng nước và giữ nước vấn đề nâng cao thể lực, rèn luyện kỹ năng luôn được quan tâm rõ nét. Chúng ta rèn luyện từ quân đội (kỹ năng võ thuật, dàn trận) sang rèn luyện cả toàn dân (xây dựng quân dân kết hợp, du kích vệ quân) kể cả trong thời chiến hay trong thời bình.

Thể dục thể thao (TDTT) cũng là một công tác cách mạng, tức là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt TDTT ngang hàng với các công tác khác như chính trị, tư tưởng, tổ chức, văn hóa, giáo dục. Bởi, công tác TDTT có nhiệm vụ nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc nhằm nâng cao sức khỏe cho nhân dân và cải tạo nòi giống Việt Nam. Chỉ sau gần 5 tháng đọc Tuyên ngôn độc lập, trong thế nước đang đứng trước muôn vàn khó khăn, với bộn bề công việc cấp bách, Hồ Chí Minh, trên cương vị Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã ký Sắc lệnh số 14-SL ngày 30-1-1946, thành lập Nha Thể dục Trung ương (thuộc Bộ Thanh niên), và Sắc lệnh số 33-SL thành lập Nha Thanh niên - Thể dục, thuộc Bộ Quốc gia giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử dân tộc Việt Nam kể từ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cùng ngày, Bác viết bài "Sức khỏe và thể dục" đăng trên báo Cứu quốc kêu gọi toàn dân tập thể dục, được coi là mốc thời gian chính thức khai sinh ngành TDTT cách mạng nước nhà.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ