Luận án về thiết kế tiến trình dạy học điện từ theo quy trình nghiên cứu khoa học

Chuyên khảo giáo dục phân tích Luận án thiết kế tiến trình dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học chương điện từ học, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học Sư Phạm

Chuyên ngành

Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2023

189
12
4

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Tổng quan về dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học

1.1.1.1. Trên thế giới - Quy trình nghiên cứu khoa học

1.1.2. Dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.5. Giả thuyết khoa học

1.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

1.7.2. Phương pháp điều tra thực trạng

1.7.3. Phương pháp chuyên gia

1.7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

1.7.5. Phương pháp thống kê toán học

1.8. Các đóng góp mới của đề tài

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quy trình nghiên cứu khoa học trong dạy học

Quy trình nghiên cứu khoa học (quy trình NCKH) là một phương pháp quan trọng trong giáo dục, đặc biệt trong việc dạy học các môn khoa học tự nhiên như Vật lý. Quy trình này bao gồm các bước như quan sát, đặt câu hỏi, nghiên cứu tổng quan, hình thành giả thuyết, thực nghiệm và rút ra kết luận. Việc áp dụng quy trình NCKH trong dạy học không chỉ giúp học sinh (HS) phát triển năng lực tư duy mà còn khuyến khích sự sáng tạo và khả năng tự học. Theo các nghiên cứu, việc dạy học theo quy trình NCKH đã được chứng minh là hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển phẩm chất của HS. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại, nơi mà việc phát triển năng lực và phẩm chất của người học được đặt lên hàng đầu.

1.1. Tầm quan trọng của quy trình NCKH trong giáo dục

Quy trình NCKH không chỉ là một công cụ để phát triển kiến thức mà còn là một phương pháp dạy học hiệu quả. Việc áp dụng quy trình này giúp HS hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của khoa học, từ đó hình thành tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH Trung ương, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại. Điều này cho thấy rằng, việc tích hợp quy trình NCKH vào giảng dạy là một yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục.

II. Thiết kế tiến trình dạy học điện từ theo quy trình NCKH

Thiết kế tiến trình dạy học điện từ cần phải dựa trên quy trình NCKH để đảm bảo rằng HS không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển năng lực nghiên cứu. Nội dung kiến thức về điện từ học là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt là ở cấp THCS. Việc tổ chức dạy học theo quy trình NCKH sẽ giúp HS có cơ hội thực hành và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Các giai đoạn trong quy trình NCKH như nghiên cứu tổng quan, hình thành giả thuyết và thực nghiệm cần được lồng ghép vào các bài học về điện từ. Điều này không chỉ giúp HS hiểu sâu hơn về kiến thức mà còn phát triển kỹ năng nghiên cứu và tư duy phản biện.

2.1. Các giai đoạn trong tiến trình dạy học

Tiến trình dạy học điện từ theo quy trình NCKH bao gồm năm giai đoạn chính: (1) Quan sát và đặt câu hỏi; (2) Nghiên cứu tổng quan; (3) Hình thành giả thuyết; (4) Thực nghiệm và (5) Rút ra kết luận. Mỗi giai đoạn đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức và phát triển năng lực của HS. Việc tổ chức các hoạt động học tập theo từng giai đoạn sẽ giúp HS có cơ hội thực hành và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này không chỉ giúp HS hiểu rõ hơn về các khái niệm trong điện từ học mà còn phát triển kỹ năng nghiên cứu và tư duy phản biện.

III. Đánh giá và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học sinh

Đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học của HS là một phần quan trọng trong quá trình dạy học. Việc xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học sẽ giúp giáo viên (GV) có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của HS trong quá trình học tập. Các tiêu chí đánh giá cần được xác định rõ ràng, bao gồm khả năng đặt câu hỏi, nghiên cứu tổng quan, hình thành giả thuyết và thực nghiệm. Điều này không chỉ giúp GV theo dõi sự tiến bộ của HS mà còn tạo động lực cho HS trong việc học tập và nghiên cứu.

3.1. Công cụ đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học

Công cụ đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học cần được thiết kế để phù hợp với từng giai đoạn trong quy trình NCKH. Các tiêu chí đánh giá nên bao gồm khả năng đặt câu hỏi, nghiên cứu tổng quan, hình thành giả thuyết và thực nghiệm. Việc sử dụng các công cụ đánh giá này sẽ giúp GV có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của HS trong quá trình học tập. Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện cho HS tự đánh giá năng lực của bản thân, từ đó có kế hoạch cải thiện và phát triển hơn nữa.

25/01/2025
Luận án thiết kế tiến trình dạy học theo quy trình nghiên cứu khoa học chương điện từ học

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu. Những đề xuất của Piaget là cơ sở cho quá trình học tập đƣợc đề xuất bởi Atkin và Karplus [36] và đƣợc sử dụng trong các chƣơng trình dạy học KH ở các 12 trƣờng tiểu học. Richard Suchman [67] đã phát triển việc sử dụng yếu tố trái ngƣợc nhau (Discrepant Events) nhƣ một công cụ để đặt câu hỏi, đƣa ra thắc mắc cho việc dạy và học những môn KH tự nhiên. Ông cho rằng, cơ sở tƣ duy, trí não của con ngƣời không thể dung nạp sự vô lí, khi quan sát một số điều không đúng với những suy nghĩ sẽ để lại cảm giác “muốn biết” cho ngƣời quan sát.

Vì vậy, trong suốt quá trình DH “lấy học sinh làm trung tâm” thì GV yêu cầu HS đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời. Ý tƣởng này đã đƣợc các nhà giáo dục sử dụng nhằm kích thích sự hứng thú và động lực của HS. Cuối thế kỉ 20, việc dạy và học các môn KH theo NCKH ngày càng phát triển (Anderson [35]; Klahr [53]), trong mô hình SDDS (Scientific Discovery as Dual Search), khám phá KH nhƣ sự nghiên cứu kép, mô hình này gồm có 3 giai đoạn: tìm kiếm giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết và đánh giá bằng chứng. DH dựa theo NCKH đã trở thành vấn đề trung tâm trong cải cách giáo dục KH ở Mỹ.

Vào những năm 1950, cách DH này đƣợc xem là một phƣơng pháp tiếp cận để dạy học các môn KH. Các nhà giáo dục đã tích cực phát triển nó từ những năm 1960 và tiếp tục cho đến ngày nay. Hiện nay, DH theo NCKH đang đƣợc áp dụng rộng rãi trong hệ thống các trƣờng dự bị Đại học để giảng dạy môn KH. Hội đồng nghiên cứu quốc gia (NRC) của Mỹ cũng khẳng định vai trò của nó và đề nghị phát triển DH theo NCKH ở các trƣờng học [60].

Shulman [66] đã xây dựng DH phát triển năng lực gồm 5 giai đoạn nhƣ sau: 1. GV trình bày vấn đề hay sự việc chƣa sáng tỏ cho ngƣời học. Ngƣời học đặt câu hỏi cho ngƣời dạy và ngƣời dạy chỉ trả lời “đúng” hoặc “không đúng”; 2. HS thu thập thông tin để xác minh tình huống chƣa sáng tỏ; 3.

HS phải tự xác định những biến số liên quan, đƣa ra giả thuyết và kiểm tra lại mối quan hệ của các biến số; 4. GV yêu cầu HS sắp xếp lại các dữ liệu và đƣa ra lời giải thích cho sự việc chƣa sáng tỏ đó; 5. HS phân tích các câu hỏi và đề xuất cách cải tiến câu trả lời. Một số mô hình DH dựa theo NCKH khác nhƣ: Quá trình học tập dựa trên tự khám phá, bao gồm 6 bƣớc: lập kế hoạch, thu thập thông tin, tiến hành, sáng tạo, 13 chia sẻ và đánh giá [34].

Theo Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kì [56], DH khám phá vận hành theo 5 giai đoạn: Câu hỏi định hƣớng KH; Tìm kiếm các bằng chứng cần thiết để trả lời câu hỏi; Tạo ra các giải thích từ bằng chứng thu thập; Kết nối giải thích với kiến thức KH; Công bố kết quả, chia sẻ và đánh giá các giải thích. DH theo năm giai đoạn (5E) đƣợc áp dụng ở nhiều cấp học trong đó có Việt Nam. Tiến trình này đƣợc mô tả nhƣ sau [20]: 1. Tạo chú ý (Engage), là giai đoạn ngƣời học bắt đầu đƣợc tiếp xúc và xác định nhiệm vụ; 2.

Khảo sát (Explore), ngƣời học có cơ hội tham gia trực tiếp vào các tình huống và làm việc với các thiết bị dụng cụ; 3. Giải thích (Explain), là thời điểm ngƣời học trình trao đổi và tranh luận thông tin thu thập; 4. Phát biểu (Elaborate), là giai đoạn ngƣời học đƣợc mở rộng khái niệm, kết nối các khái niệm có liên quan và vận dụng những hiểu biết; 5. Đánh giá (Evaluation), là hoạt động cho phép ngƣời dạy xác định những kiến thức và khái niệm mà ngƣời học đã đạt đƣợc.

Qua việc nghiên cứu tài liệu về DH theo NCKH, chúng tôi nhận thấy có 2 vấn đề chính: lí luận về lí thuyết DH theo quy trình NCKH và ứng dụng quy trình NCKH vào lĩnh vực giáo dục trong các môn KH. Các tác giả đã ứng dụng vào thực tiễn DH ở trƣờng phổ thông bằng cách xây dựng các tiến trình DH theo quy trình NCKH. Trên thế giới đã có nhiều mô hình DH của nhiều tác giả [46], nhƣng dễ thấy, các tiến trình DH trên thiếu vắng một giai đoạn quan trọng trong NCKH, đó là giai đoạn nghiên cứu tổng quan. Phải chăng, giai đoạn “nghiên cứu tổng quan” không quan trọng trong dạy học ở trƣờng phổ thông? Nếu đƣa giai đoạn “nghiên cứu tổng quan” vào trong tiến trình dạy học thì gặp phải khó khăn gì? 1.

Ở Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy, trong DH các bộ môn KH cần thiết phải vận dụng quy trình NCKH. Dƣới đây là một số quan điểm về DH theo quy trình NCKH của một số tác giả: Theo tác giả Thái Duy Tuyên [26]: “nghiên cứu các phƣơng pháp KH và tìm kiếm con đƣờng chuyển các phƣơng pháp KH thành phƣơng pháp tự học sẽ giúp HS nắm vững phƣơng pháp tự học và học tập có kết quả hơn, và rất cần cho sự phát 14 triển của HS trong tƣơng lai”. Tác giả Thái Duy Tuyên đề xuất để GV hƣớng dẫn HS tự học theo quy trình NCKH, theo 6 giai đoạn: (i) Làm xuất hiện vấn đề; (ii) Xây dựng dự đoán; (iii) Suy luận rút ra hệ quả; (iv) Đề xuất và thực hiện một phƣơng án thí nghiệm kiểm tra; (v) Hợp thức hóa kết quả nghiên cứu; (vi) Ứng dụng kiến thức mới. Tác giả Nguyễn Đức Thâm và Nguyễn Ngọc Hƣng [27] nêu rõ: Để giúp HS bằng các hoạt động của bản thân mình mà tái tạo, chiếm lĩnh đƣợc các kiến thức vật lí thì tốt nhất là GV phỏng theo phƣơng pháp thực nghiệm của các nhà khoa học mà tổ chức cho HS hoạt động theo các giai đoạn sau: 1.

Tình huống xuất phát. GV mô tả hoàn cảnh thực tiễn hay biểu diễn một vài thí nghiệm và yêu cầu các em dự đoán diễn biến của hiện tƣợng, tìm nguyên nhân hoặc xác lập một mối quan hệ nào đó, tóm lại là nêu lên một câu hỏi mà HS chƣa biết câu trả lời, cần phải suy nghĩ tìm tòi mới trả lời đƣợc; 2. Xây dựng giả thuyết. GV hƣớng dẫn, gợi ý cho HS xây dựng một câu trả lời dự đoán ban đầu, dựa vào sự quan sát tỉ mỉ kĩ lƣỡng, vào kinh nghiệm bản thân, vào những kiến thức đã có.

Những dự đoán này có thể còn thô sơ, có vẻ hợp lí nhƣng chƣa chắc chắn. Rút ra hệ quả. Từ giả thuyết dùng suy luận logic hay suy luật toán học suy ra một hệ quả: Dự đoán một hiện tƣợng trong thực tiễn một mốỉ quan hệ giữa các đai lƣợng vật lí. Đề xuất và tiến hành TN kiểm tra hệ quả.

Xây dựng và thực hiện một phƣơng án thí nghiệm để kiểm tra xem hệ quả dự đoán ở trên có phù hợp với kết quả thực nghiệm không. Nếu phù hợp thì giả thuyết trên trở thành chân lí, nếu không phù hợp thì phải xây dựng giả thuyết mới. Ứng dụng kiến thức. HS vận dụng kiến thức để giải thích hay dự đoán một số hiện tƣợng trong thực tiễn, để nghiên cứu các thiết bị kĩ thuật.

Qua đó, trong một số trƣờng hợp, sẽ đi tới giới hạn áp dụng của kiến thức và xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mới cần giải quyết. Tác giả Phạm Hữu Tòng đề xuất tiến trình DH theo tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong NCKH. Tác giả Phạm Hữu Tòng đã đƣa ra mô hình DH vật lí phỏng theo tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong NCKH gồm 3 pha và 6 bƣớc: Pha 1 (chuyển giao nhiệm vụ. Tình huống có tiềm ẩn vấn đề; 15 1.

Phát biểu vấn đề - bài toán”; Pha 2 (HS hành động độc lập, tự chủ, trao đổi tìm tòi giải quyết vấn đề), gồm “2.Giải quyết vấn đề: suy đoán, thực hiện giải pháp; 2. Kiểm tra, xác nhận kết quả: xem xét sự phù hợp của lí thuyết và thực nghiệm”; Pha 3 (Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới), gồm “3. Trình bày, thông báo, thảo luận, bảo vệ kết quả; 3. Vận dụng tri thức mới để giải quyết nhiệm vụ đặt ra tiếp theo”.

Trong DH môn học KH, các tác giả đều nhấn mạnh sự cần thiết phải dựa theo chu trình sáng tạo KH do V. Razumopxki nhƣ đã trình bày ở trên. Ngoài ra, các tác giả đã đề cập đến phƣơng pháp thí nghiệm lí tƣởng, phƣơng pháp tƣơng tự, phƣơng pháp mô hình hóa, phƣơng pháp cơ bản hình thành khái niệm trong dạy học Vật lí ở trƣờng phổ thông. Tuy nhiên, các phƣơng pháp DH trên chƣa làm nổi bật lên 5 giai đoạn của quy trình NCKH.

Đồng thời bên cạnh đó, các phƣơng pháp trên chƣa chỉ ra đƣợc các năng lực thành phần của NLKH cần đƣợc phát triển cho HS trong quá trình học tập theo quy trình NCKH. Có thể thấy, phƣơng pháp dạy học trên còn một số điểm cần khắc phục: tình huống, thí nghiệm hay câu hỏi nghiên cứu đều xuất phát từ GV, nhƣ vậy, HS là ngƣời bị động trong quá trình học tập; Chƣa phân biệt đƣợc câu giả thuyết và câu dự đoán, điều này sẽ gây khó khăn cho HS trong quá trình học tập; Hệ quả rút ra từ giả thuyết chỉ có một hệ quả, trong khi một giả thuyết có thể có nhiều hệ quả cần phải đƣợc chứng minh thì kết luận về sự đúng/sai của giả thuyết sẽ mang tính khách quan cao hơn. Chƣa làm bật câu hỏi cốt lõi của vấn đề nghiên cứu về hiện tƣợng vật lí quan sát đƣợc. Phƣơng pháp LAMAP hay “Bàn tay nặn bột” (“La main à la pâte”, “Hand's on”) gồm 5 giai đoạn [29], [6]: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề; Hình thành câu hỏi của HS; Xây dựng giả thuyết và thiết kế phƣơng án thực nghiệm; Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu; Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.

Phƣơng pháp “Bàn tay nặn bột” đề xuất một tiến trình sƣ phạm ƣu tiên xây dựng những tri thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận. Đó là sự thực hành KH bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng tập thể 16 chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sự ghi nhớ thuần túy. HS tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểu đƣợc các kiến thức cho chính mình. Có thể thấy, phƣơng pháp “Bàn tay nặn bột” thể hiện khả năng độc lập trong học tập của HS và phát huy đƣợc khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu của HS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về thiết kế tiến trình dạy học điện từ theo quy trình nghiên cứu khoa học" tập trung vào việc phát triển một phương pháp dạy học hiệu quả trong lĩnh vực điện từ, dựa trên quy trình nghiên cứu khoa học. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thiết kế tiến trình dạy học mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học vào giáo dục. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức tổ chức và triển khai các hoạt động dạy học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục trong lĩnh vực này.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác trong giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học lớp 12, nơi đề cập đến việc phát triển năng lực tự học trong giáo dục, hay Dạy học tích hợp để phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong hóa học 11, một nghiên cứu về phương pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc cải thiện phương pháp dạy học và phát triển năng lực cho học sinh, giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực giáo dục.