Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC DẠY HỌC TÍCH HỢP. NHAM PHAT TRIÊN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VAN DE CHO HQC SINH 1. - Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.
Những nghiên cứu ngoài nước ‘Ung dung quan điểm tích hợp vào dạy học là xu thế chung ở các nước trong. khu vực và trên thế giới. Tích hợp trong dạy học đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại bên cạnh các trào lưu sư phạm như dạy học tương tác, dạy học kiến tạo. Theo thông kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chương trình.
môn học thể hiện quan điểm tích hợp ở các mức độ khác nhau, từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề. Từ năm 1960, đã có nhiều hội nghị bàn về việc phát triển chương trình theo hướng tích hợp. Năm 1981, một tổ chức quốc tế đã được thành lập để cung cấp các thông tin về các chương trình tích hợp (các môn khoa học) nhằm thúc đây việc áp dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kế chương trình các môn khoa học trên thế giới. Tháng 9 năm 1968, Hội đồng liên quốc gia về dạy học khoa học, với sự bảo.
trợ của UNESCO, đã tổ chức tại Varna (Bungari) “Hội nghị tích hợp việc dạy học. các khoa học” để đưa ra các lí do phải DHTH các khoa học, DHTH là gì, ách thức. DHTH và những triển vọng của DHTH, trong đó có nêu ra rằng: Tích hợp không chỉ diễn ra ở nội dung mà còn tích hợp cả ở phương pháp lẫn các kĩ năng cần hình. thành ở người học.
Tích hợp không chỉ ở một ngành học nào mà là liên ngành. hợp không chỉ ở một bậc học nào mà ở tắt cả các bậc hoe [30]. Ngoài ra, tích hợp là một trong những xu hướng mới của lí luận đạy học và nước trên thể giới quan tâm thực hiện. Nó cũng là xu hướng dạy quốc gia có trình độ giáo dục tiên iến như Anh, Pháp, Úc, Singapo hay các nước đang phát triển như Trung Quốc, Philipin.
Tại Philipin cuốn giáo trình được biên soạn có tên Fusion (sự hòa kết, sự hợp nhất) trong đó tổ hợp nhiều kiến thức, kĩ năng để phát huy sức mạnh tổng hợp của các phân môn. trong tình huống nhận thức cũng như trong tình huống thực tiễn. Các phân môn đều hướng tới mục tiêu chung là hình thành, phát triển những năng lực quan trọng cần thiết cho cuộc sống. Trong chương trình cải cách giáo dục của một số nước, quan điểm tích hợp.
được nêu rõ trong chương trình như là một yêu cầu bắt buộc. Tích hợp là một trong những quan điểm xây dựng chương trình dạy học của nhiều nước như Pháp, Mỹ, Anh. Ví dụ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, tải liệu giới thiệu về chương trình (Curriculum A comprehensive) cia MY da gianh hin mét mục bản vẻ tích hợp nội dung giáo dục trong chương trình giáo dục nhằm đáp ứng mong muốn lam cho chương trình thích ứng yêu cầu của xã hội, làm cho chương trình trở nên có ý nghĩa. Tại một số nước Phương Tây khác cũng đã xuất hiện những công trình nghiên cứu.
công phu về quan điểm DHTH. Nhà sư phạm Xavier Roegiers người Bi đã tổng hợp thành sách “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường” xuất bản năm 1996. Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích những. căn cứ để dẫn tới việc tích hợp trong dạy học, từ lý thuyết về các quá trình học tập, lý thuyết về quá trình dạy học (các trào lưu sư phạm), các phương pháp xây dựng.
chương trình theo quan điểm tích hợp tới định nghĩa, mục tiêu của khoa sư phạm tích hợp, ảnh hưởng của cách tiếp cận nảy tới việc xây dựng chương trình giáo dục, tới thiết kế mô hình dạy học và việc đánh giá kết quả của học sinh. Cho dén nay xu hướng tích hợp trong các môn Khoa học tự nhiên được thực hiện theo 3 mức độ sau: 1. Có môn học tên Khoa học từ tiểu học đến THPT: Xu hướng này thê hiện rõ ở Mĩ, Anh, Úc, Singapo, Nhật Bản, Hàn Quốc. Có tên môn Khoa học hoặc tên gọi khác ở tiểu học, đến THCS tách ra thành môn Lý ~ Hóa (khoa học vật thé), Sinh ~ Địa (khoa học sự sống và khoa học về Trái đất).
Xu hướng này thể hiện ở Pháp, Đan Mạch. Phần Lan và một số nước Châu Phi. Chỉ có môn Khoa học ở tiểu học, tách thành các môn riêng biệt ở trung học, tiêu biểu là Nga, Trung Quốc, Việt Nam. Những nghiên cứu trong nước Nghị quyết 29 của BCH TW 8 khóa XI năm 2013 về đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam.
Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội về việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa. Công văn 4099/BGDĐT - GDTrH của Bộ Giáo dục và Đảo tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học. năm học 2014 ~ 2015 đều hướng tới mục tiêu phát triển năng lực học sinh. Trước hết cần nhận thức sâu sắc tính cách mạng và khoa học của quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nễn giáo dục.
Đây không phải là những sửa đồi, đi: chỉnh nhỏ, đơn lẻ, cục bộ, mang tính bề it. Đây là quá trình đổi mới “đụng” tới tằng sâu bản chất của hệ thống giáo dục, làm thay đổi căn bản về chất của tống giáo dục, đề đưa. thống giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn, chất lượng hơn. DHTH là một trong những quan điểm chủ đạo để phát triển chương trình giáo dục nói chung và môn Khoa học tự nhiên nói riêng của nước ta trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên về cơ bản, phương pháp dạy học của các môn Khoa học tự nhiên đều có điểm thống nhất chung đó là tìm tòi, khám phá một cách tí cực. Quan điểm tích hợp đã thể hiện rõ ràng từ khái niệm, cách phát triển chương trình, viết sách giáo khoa, phương pháp dạy học. Hiện nay, đã có một số đề tài nghiên cứu về DHTH như: 1. Trần Thị Tú Anh, Luận văn: ích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong dạy học môn hóa học lớp 12 Trung học phổ thông”, Đại học Sư phạm thành phố Hỗ Chí Minh, 2009.
Nguyễn Phúc Chinh (2012), “Tích hợp trong dạy học Sinh học”, NXB Dai học Thái Nguyên. Đỉnh Xuân Giang, Luận văn thạc sỉ ‘an dụng tư tưởng sư phạm tích hop trong dạy học một số kiến thức về “chất khí” và “cơ sở nhiệt động lực học” (Vật lý: 10 — cơ bản) nhằm phát hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học. sinh”, Dai học sư phạm Thái Nguyên, 2009, 4. Nguyễn Thị Hường, Luận văn thạc sĩ *Vận dụng biện pháp tích hợp vào day học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10”, Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.
Trần Thị Mai Lan, Luận văn thạc sĩ: “Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong day học vĩ sinh vật học (sinh học 10)”, Đại học sư phạm Thái Nguyên, 2009. Nguyễn Thị Thanh Han; "hát triển năng lực dạy học tích hợp môn hóa học. với các môn khác cho giáo việc ở trường Trung học cơ sở”, trường ĐIISP, Đại học Huế, 2015. Dương Thị Hồng, “Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp môn Hóa học với các môn học khác ở trường Trung học phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả học tập của học sinh, trường ĐHSP, Đại học Huế, 2015.
Ngé Thi Thanh Hoa, * iiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp trong dạy học. phần hiđrocacbon lớp 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh” ĐHSP Hà Nội, 2015. Nguyễn Thị Trang, “Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp trong chương. oxi ~ lưu huỳnh Hóa học lớp 10 nhằm phát triển năng lực cho học sinh”, ĐHSP Hà Nội, 2015.
Tuy nhiên, chưa có để tài nào nghiên cứu về việc phát triển năng lực GQVĐ. cho học sinh thông qua DHTH các chủ để trong dạy học phần phi kim Hóa học lớp 11 THPT. Vì vậy, đề tài nghiên cứu này là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng. dạy - học ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay.
Dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp 12. Khải niệm tích hợp Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tỉnh: integration với nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thẻ, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phân riêng lẻ. Theo từ điển Anh - Anh (Oxford Advanced Leamer's Dictionary), tir integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng.
Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau. Theo Tir điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), nghĩa chung của từ integration có hai khía cạnh: ~ Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẽ. ~ Trạng thái mà trong đó có c; chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ. Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp [17].
Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thẻ thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép. cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Như vậy tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, qui định. lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn.
'Nhờ có tính liên kết, mà có thể tạo nên một thực thể toàn vẹn trong đó không, cần phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các trí thức, kĩ năng không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung. hoặc giải quyết một vấn đề tình huống.
Khái niệm dạy học tích hợp Thang 9 năm 1968, lội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tô chức tại Vama (Bungari). với sự bảo trợ của UNESCO. Hội nghị nêu ra hai vấn để là vì sao phải DHTH và. tích hợp các khoa học là gì? [30].
Theo đó, DHTH được ƯNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự.