mở đầu chế độ chiếm hữu nô lệ của Trung Quốc. Vào thời đó, nhà Hạ chia nƣớc ra thành chín châu. Vua định lệ cống, phú cho các châu. Cống phẩm tùy theo các sản vật của từng địa phƣơng, quý tộc chủ nô bóc lột sức lao động của nông dân công xã một cách hà khắc.
Chúng sống một cuộc sống xa hoa trên xƣơng máu của nhân dân. Cùng với việc xây dựng bộ máy nhà nƣớc để bảo vệ tài sản, địa vị xã hội của tầng lớp quý tộc, đàn áp sự phản ứng của quần chúng, nhà Hạ cũng tiến hành kiến thiết thành quách để đề phòng sự tấn công của các bộ lạc khác từ bên ngoài. Các di chỉ khảo cổ cho thấy rõ sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội Trung Quốc thời Ân Thƣơng. Trong mộ thƣờng dân chôn theo ngƣời chết chỉ có dao đá, giáo mác, đồ gốm thƣờng và một số vật dụng ăn uống.
Mộ của nô lệ thì hầu nhƣ không có gì, vì ngƣời ta quan niệm rằng, nô tỳ chết đi thì vẫn là nô tỳ, chỉ có hai bàn tay trắng và bổn phận của họ vẫn là kẻ phục dịch cho chủ nô quý tộc đã chết. Trái lại, mộ của quý tộc thì rất lớn. Bên trong chôn đủ các loại đồ dùng nhƣ khi còn sống, vàng ngọc, châu báu… số lƣợng nhiều hay ít tùy theo mộ lớn hay nhỏ. Họ còn chôn theo cả nam nữ nô lệ và võ sĩ để phục vụ cho quý tộc đã chết.
Vào khoảng thế kỷ XII trƣớc Công nguyên, ở phía tây đồng bằng Hoa Bắc rộng lớn là vùng cao nguyên đất vàng, một vùng dất đai phì nhiêu dọc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo hai con sông Kinh và sông Vị thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay, bộ tộc Chu đã nổi lên. Đến khoảng thế kỷ XI trƣớc Công nguyên, con của Chu Văn Vƣơng là Chu Vũ Vƣơng đã nổi dậy diệt vua Trụ nhà Ân, lập ra nhà Chu, đóng đô tại Hạo Kinh. Lịch sử gọi đó là thời kỳ Tây Chu. Dƣới thời Tây Chu, lực lƣợng sản xuất của xã hội đã đạt tới trình độ cao hơn nhiều so với thời Ân Thƣơng.
Việc sử dụng các công cụ, vật dụng bằng sắt bắt đầu xuất hiện đã thúc đẩy một số ngành thủ công nghiệp phát triển, từ đó làm cho kỹ thuật canh tác đất đai đƣợc cải tiến, hệ thống thủy nông dần hoàn thiện, quy mô sử dụng lực lƣợng lao động đƣợc mở rộng. Chính sự phát triển của sản xuất đã thúc đẩy sự tiến bộ trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, lịch pháp, địa lý, y học, thiên văn và nhiều lĩnh vực khác. Hệ thống chính trị ngày một hoàn thiện hơn. Thời Tây Chu, nhà Chu tự xƣng là “thiên tử”, là lãnh chúa tối cao chiếm toàn bộ đất đai và thống trị thần dân trong nƣớc.
Vua nhà Chu đặt ra các chức quan nhƣ tƣ đồ, tƣ mã, tƣ không, tƣ khấu chuyên phụ trách các công việc nhƣ tài chính, xây dựng, quân đội, hình pháp và giáo dục. Chế độ giáo dục nhà Chu là chế độ mang tính chất thế tập. “Thiên tử” phân phong đất đai, chức tƣớc cho anh em, họ hàng và công thần làm chƣ hầu để họ dựng nƣớc và trị dân các nơi. Chƣ hầu lại phân phong đất đai, chức tƣớc cho các bậc đại phu, quý tộc.
Vì thế, chế độ phong hầu kiến địa nhà Chu vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế và huyết thống. Quyền hạn các chƣ hầu đƣợc định sẵn. Chu hầu cũng có quân đội riêng nhƣng phải thuần phục mệnh lệnh của “thiên tử” nhà Chu. Các chƣ hầu theo định kỳ hàng năm phải thực hiện chế độ triều cống, triều hội đối với nhà Chu.
Vì thế, các lãnh chúa lớn nhỏ ra sức bóc lột nông nô. Nông nô hằng ngày bị thắt chặt vào ruộng đất của các lãnh chúa. Lao động nặng nhọc, đời sống cực khổ đã đẩy nông dân công xã và nô lệ nổi dậy chống lại bọn thống trị sống xa hoa trên xƣơng máu của nhân dân lao động. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cùng với sự hoàn thiện hệ thống chính trị, nhà Chu tiến hành cải cách quan hệ sản xuất, tiếp tục thi hành rộng rãi chế độ “tỉnh điền”.
Chế độ “tỉnh điền” là chế độ sử dụng ruộng đất trong đó đất đai đƣợc chia ra làm nhiều khu, mỗi khu do ngƣời ta đào mƣơng dọc ngang hai bên là đƣờng đi, chia cắt ruộng đất thành chín mảnh vuông, nhƣ hình chữ “tỉnh”. Tám mảnh xung quanh do các gia đình nông nô cày cấy, còn mảnh ở giữa tám gia đình ấy phải cùng nhau canh tác, sản phẩm làm ra phải nộp cho nhà nƣớc. Ruộng đất canh tác tùy theo tốt xấu mà phân chia cho nông dân công xã theo một thời gian nhất định. Nông dân phải nộp khoảng một phần mƣời tổng số lúa thu hoạch cho nhà nƣớc, gọi là thuế “thập nhất”.
Ngoài việc nộp thuế, ngƣời dân còn phải đi sƣu dịch, xây thành đắp lũy, làm đƣờng xá, đào mƣơng, đắp đập hay đi chiến trận. * Thời Xuân Thu Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại nhà Hạ, qua nhà Thƣơng, đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bƣớc vào giai đoạn khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn. Xã hội Trung Quốc trải qua một thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trƣởng. Giá trị tƣ tƣởng, đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, nhƣng giá trị tƣ tƣởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đƣờng xác lập.
Sự biến đổi toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kỳ này đã tạo tiền đề cho sự giải phóng tƣ tƣởng con ngƣời, thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại tôn giáo, thần bí truyền thống. Năm 781 trƣớc Công nguyên, nhân vua Chu là U Vƣơng phế hoàng hậu họ Thân và thái tử Nghi Câu, phong Bao Tự làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân hầu liên kết với giặc Tây Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu hủy kinh đô nhà Chu, giết chết U Vƣơng dƣới chân Ly Sơn, lập thái tử Nghi Câu lên làm vua lấy hiệu là Chu Bình Vƣơng. Sau đó một năm, vì đất Thiểm Tây luôn bị 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung đe dọa, nên Chu Bình Vƣơng phải dời đô về phía đông, đến Lạc Ấp, nhƣờng căn cứ Quan Trung cho Tần Tƣơng Công. Xã hội Trung Quốc bƣớc vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời Xuân thu.
Về kinh tế: Thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. + Về nông nghiệp: Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến.Thời kỳ này, hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trƣờng Giang. Diện tích đất đai canh tác nhờ đó đƣợc mở rộng. Kỹ thuật trồng trọt cũng đƣợc cải tiến, tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp.
Từ đó, ngƣời ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay xấu nhƣ trƣớc nữa. Giờ đây, công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô, cày cấy trong thời gian lâu dài. Vì vậy, nông dân có thể dùng phƣơng pháp lƣu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng. Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tƣ ngày một nhiều.
Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tƣ. Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã. Sau đó, chế độ tƣ hữu ruộng đất còn đƣợc pháp luật nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ. Trƣớc kia, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã chia đều cho nông nô.
Nông nô phải nộp một phần sản lƣợng nông phẩm thu hoạch đƣợc cho thôn xã để nộp lên triều đình. Khi chế độ tƣ hữu ruộng đất phát triển, số lƣợng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nƣớc đã bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu). + Thủ công nghiệp: Do việc sử dụng công cụ bằng sắt là phổ biến cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, nhƣ nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm… + Thƣơng nghiệp: Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thƣơng nghiệp cũng phát triển hơn. Tiền tệ đã xuất hiện.
Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thƣơng nhân giàu có và ngày càng có thế lực. Thƣơng nhân đã có nhiều ngƣời kết giao với chƣ hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hƣởng đối với chính trị đƣơng thời. Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phƣơng tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chƣ hầu cát cứ đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những ngƣời có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đƣơng. Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất “nông bản thƣơng mạt”, nên nó cũng chƣa thực sự phát triển.
Nhƣng sự hình thành của thƣơng nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới. Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ. Về chính trị xã hội, nếu nhƣ dƣới thời Tây Chu, chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ đƣợc một thời gian dài hƣng thịnh, thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn đƣợc tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nƣớc chƣ hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn đƣợc tôn trọng nhƣ trƣớc. Thiên tử nhà Chu hầu nhƣ không còn quyền uy với các nƣớc chƣ hầu.
Thiên tử không còn xét xử đƣợc những cuộc tranh chấp giữa các nƣớc chƣ hầu. Các lãnh chúa nhỏ và vừa xƣa nay vẫn dựa vào quyền uy của thiên tử giờ đây trở nên thất vọng.