Luận án tiến sĩ: Đối chiếu ngữ nghĩa giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt

Luận án tiến sĩ phân tích ngữ nghĩa các giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt theo cách tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

235
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ

1.3. Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận truyền thống

1.4. Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

1.5. Về ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu và nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa và tương đương về ngữ nghĩa của từ giữa các ngôn ngữ

1.6. Ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

1.7. Khái quát về giới từ và giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.8. Một số khái niệm liên quan đến giới từ không gian theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

1.9. Vai trò của tri thức bách khoa trong việc hiểu ngữ nghĩa của giới từ không gian

1.10. Nghiệm thân và giới từ không gian nhìn từ góc độ nghiệm thân

1.11. Phạm trù tỏa tia

1.12. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN “OUT, IN, UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

2.1. Ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT

2.2. Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian OUT

2.3. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT

2.4. Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian OUT

2.5. Ngữ nghĩa của giới từ không gian IN

2.6. Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian IN

2.7. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian IN

2.8. Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian IN

2.9. Ngữ nghĩa của giới từ không gian UP

2.10. Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian UP

2.11. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian UP

2.12. Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian UP

2.13. Ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN

2.14. Nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của giới từ không gian DOWN

2.15. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN

2.16. Sơ đồ tỏa tia của giới từ không gian DOWN

2.17. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

3.1. Dẫn nhập

3.2. Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương RA

3.3. Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương RA

3.4. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương RA

3.5. Sơ đồ tỏa tia của từ không gian RA

3.6. Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương VÀO

3.7. Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương VÀO

3.8. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương VÀO

3.9. Sơ đồ tỏa tia của từ không gian VÀO

3.10. Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương LÊN

3.11. Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương LÊN

3.12. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương LÊN

3.13. Sơ đồ tỏa tia của từ không gian LÊN

3.14. Ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương XUỐNG

3.15. Các nội dung ý niệm được thể hiện qua biểu hiện tương đương XUỐNG

3.16. Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của biểu hiện tương đương XUỐNG

3.17. Sơ đồ tỏa tia của từ không gian XUỐNG

3.18. Tiểu kết Chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN “OUT, IN, UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH VỚI CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

4.1. Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT trong tiếng Anh với RA trong tiếng Việt

4.2. Điểm giống nhau

4.3. Điểm khác nhau

4.4. Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian OUT trong tiếng Anh với RA trong tiếng Việt

4.5. Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian IN trong tiếng Anh với VÀO trong tiếng Việt

4.6. Điểm giống nhau

4.7. Điểm khác nhau

4.8. Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian IN trong tiếng Anh với VÀO trong tiếng Việt

4.9. Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian UP trong tiếng Anh với LÊN trong tiếng Việt

4.10. Điểm giống nhau

4.11. Điểm khác nhau

4.12. Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian UP trong tiếng Anh với LÊN trong tiếng Việt

4.13. Đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN trong tiếng Anh với XUỐNG trong tiếng Việt

4.14. Điểm giống nhau

4.15. Điểm khác nhau

4.16. Bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa của giới từ không gian DOWN trong tiếng Anh với XUỐNG trong tiếng Việt

4.17. Tiểu kết Chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI OUT

PHỤ LỤC 2 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI IN

PHỤ LỤC 3 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI UP

PHỤ LỤC 4 – NHỮNG ĐỘNG TỪ ĐI VỚI DOWN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ngữ nghĩa giới từ không gian

Nghiên cứu ngữ nghĩa của các giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ. Các giới từ không gian như 'out', 'in', 'up', 'down' trong tiếng Anh và 'ra', 'vào', 'lên', 'xuống' trong tiếng Việt không chỉ thể hiện các mối quan hệ không gian mà còn phản ánh cách mà người bản ngữ tri nhận và diễn đạt thế giới xung quanh. Việc phân tích ngữ nghĩa của các từ này giúp làm rõ cách thức mà các khái niệm không gian được hình thành và phát triển trong ngôn ngữ. Theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, ngữ nghĩa của các giới từ không gian không chỉ dừng lại ở nghĩa gốc mà còn mở rộng ra nhiều nghĩa phái sinh khác nhau, phản ánh sự phong phú trong cách mà con người trải nghiệm không gian.

1.1. Khái niệm và vai trò của giới từ không gian

Giới từ không gian là những từ chỉ vị trí, hướng đi hoặc mối quan hệ giữa các thực thể trong không gian. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí và hướng di chuyển của các đối tượng. Trong tiếng Anh, các giới từ không gian như 'out', 'in', 'up', 'down' không chỉ đơn thuần chỉ vị trí mà còn mang theo nhiều ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Tương tự, trong tiếng Việt, các từ 'ra', 'vào', 'lên', 'xuống' cũng thể hiện những mối quan hệ không gian phức tạp. Việc nghiên cứu các giới từ không gian này giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh khái niệm không gian trong tư duy con người.

II. Phân tích ngữ nghĩa của giới từ không gian trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh, giới từ không gian 'out' thể hiện hành động di chuyển ra ngoài một không gian nào đó. Nghĩa gốc của 'out' có thể được mở rộng để chỉ các tình huống khác nhau, từ việc ra khỏi một không gian vật lý đến việc biểu thị sự xuất hiện của một hiện tượng. Ví dụ, trong câu 'The stars come out', 'out' không chỉ đơn thuần chỉ vị trí mà còn mang ý nghĩa về sự xuất hiện. Tương tự, 'in' thể hiện sự tồn tại bên trong một không gian, với nhiều nghĩa phái sinh như sự bao bọc hay sự tham gia. Việc phân tích các giới từ không gian này giúp làm rõ cách mà người sử dụng ngôn ngữ tri nhận và diễn đạt các mối quan hệ không gian.

2.1. Sự mở rộng ngữ nghĩa của giới từ không gian

Sự mở rộng ngữ nghĩa của các giới từ không gian trong tiếng Anh không chỉ dừng lại ở nghĩa gốc mà còn bao gồm nhiều nghĩa phái sinh khác nhau. Chẳng hạn, 'up' không chỉ thể hiện hướng đi lên mà còn có thể chỉ sự gia tăng, phát triển. Tương tự, 'down' không chỉ chỉ hướng đi xuống mà còn có thể mang ý nghĩa tiêu cực như sự suy giảm. Việc phân tích sự mở rộng này giúp hiểu rõ hơn về cách mà các khái niệm không gian được hình thành và phát triển trong ngôn ngữ, từ đó phản ánh cách mà con người trải nghiệm và tri nhận thế giới xung quanh.

III. Đối chiếu ngữ nghĩa giữa tiếng Anh và tiếng Việt

Việc đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt cho thấy sự tương đồng và khác biệt trong cách mà hai ngôn ngữ này phản ánh khái niệm không gian. Các từ 'out' và 'ra' đều thể hiện hành động di chuyển ra ngoài, nhưng cách sử dụng và ngữ cảnh có thể khác nhau. Tương tự, 'in' và 'vào' cũng có những điểm tương đồng nhưng lại mang những sắc thái ngữ nghĩa riêng biệt. Việc phân tích này không chỉ giúp làm rõ sự tương đồng và khác biệt mà còn giúp hiểu rõ hơn về cách mà các khái niệm không gian được hình thành và phát triển trong từng ngôn ngữ.

3.1. Những điểm tương đồng và khác biệt

Khi đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian như 'out' với 'ra', 'in' với 'vào', có thể nhận thấy rằng mặc dù chúng có những điểm tương đồng về nghĩa gốc, nhưng cách mà chúng được sử dụng trong ngữ cảnh lại có sự khác biệt rõ rệt. Ví dụ, 'out' có thể được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, từ vật lý đến trừu tượng, trong khi 'ra' thường chỉ hành động di chuyển ra ngoài một không gian cụ thể. Điều này cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách mà các ngôn ngữ phản ánh khái niệm không gian.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian out in up down trong tiếng anh với ra vào lên xuống trong tiếng việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ và sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của từ 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Vấn đề về ngữ nghĩa của từ được manh nha nghiên cứu từ rất sớm qua một số bài viết về ngữ nghĩa tiếng Latinh của tác giả Reizig Berary công bố tại Đức vào năm 1825 mà về sau đã được Fridrich Haase, học trò của ông, tập hợp lại và tái bản năm 1839 với tên gọi cho môn học là semasiology.

Hay một số bài báo của Benjamin Humphrey và công trình Metaphisical Etymology (Từ nguyên siêu hình) xuất bản năm 1850 của Horne Tooke được công bố tại Anh và tên gọi cho bộ môn này cũng được tác giả đặt là semasiology. Nhưng phải đến năm 1877 với sự xuất hiện công trình Essai de Sémantique (Science des significations) (Tiểu luận ngữ nghĩa (Khoa học về ý nghĩa)) của Michel Bréal thì ngữ nghĩa học mới được công nhận như là một bộ môn khoa học, công trình này được giới nghiên cứu đánh giá: “Công trình được xem là bước đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn khoa học nhân văn” và gọi tên bộ môn khoa học này bằng tiếng Pháp, bản ngữ của Michel Bréal, là sémantique.7] Dựa vào những thành tựu về lí thuyết ngữ nghĩa học, gắn liền với tên tuổi của các tác giả và các công trình lớn của họ, tác giả Lê Quang Thiêm [59, tr.13-25] đã khái lược rất rõ về tiến trình và các khuynh hướng ngữ nghĩa học, trong đó tác giả đã phân chia tiến trình ngữ nghĩa học ra ba thời kì chính: thời kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận. * Thời kì tiền cấu trúc luận: Thời kì này bắt đầu từ sự ra đời công trình Essai de Sémantique (Science des significations) (Tiểu luận ngữ nghĩa (Khoa học về ý nghĩa)) của Michel Bréal vào cuối thế kỉ XIX kéo dài đến 20 năm đầu của thế kỉ XX, thể hiện rõ nhất ở khu vực 8 luan an Tây Âu là ở ba nước gồm Pháp, Đức và Anh. Những tác giả tiêu biểu ở Pháp sau tên tuổi của M.

Bréal trong thời kì này có thể kể đến là Antoine Meillet, Littré Darmesteter, Ch. Bally,…; ở Đức là tên tuổi của Karl Reisig, Friedrich Haase, Agathon Benary, Oskar Hey, Ferdinand Heerdegen,…; ở Anh có thể kể đến những nhà ngữ nghĩa học – kí hiệu học nổi tiếng là Ch. Lady Welly,… cùng với các tên tuổi khác như John Horme Took, Richard Ch. Sayce, Jamas Murray,… Ở Pháp, M.

Bréal tiếp cận ngữ nghĩa theo hướng tâm lí học, A. Meillet tiếp cận theo hướng xã hội học (hướng nghiên cứu tập trung vào tác động xã hội), L. Darmesteter tiếp cận theo hướng sinh học và Ch. Bally tiếp cận theo hướng tu từ học, việc nghiên cứu nghĩa tập trung vào nghĩa của từ, sự thay đổi nghĩa của từ và quy luật tương tác tâm lí của sự thay đổi nghĩa.

Ở Đức, quan điểm ngữ nghĩa học của các tác giả chịu ảnh hưởng lớn bởi tư tưởng của những nhà ngôn ngữ học lớn ở Đức trước đó hoặc ở cùng thời như: Kant, Bopp và Humboldt, và ngữ nghĩa học ở Đức thời kì này được gọi là ngữ nghĩa học lịch sử, bởi vì việc phân tích, diễn giải các hiện tượng nghĩa bị chi phối mạnh bởi tư tưởng lịch sử, chủ nghĩa lịch sử, phạm vi nghiên cứu về nghĩa cũng tập trung vào nghĩa từ vựng, lịch sử của sự thay đổi nghĩa, nguyên nhân của sự biến đổi nghĩa. Chính những nghiên cứu sự biến đổi nghĩa theo tư tưởng lịch sử, chủ nghĩa lịch sử và tâm lí xuất hiện ở Đức sớm hơn là ở Pháp và Anh vì thế có ảnh hưởng tới cả Pháp và Anh, M. Bréal cũng chịu một phần ảnh hưởng của tư tưởng này, các tác giả ở Anh một mặt chịu ảnh hưởng của quan điểm lịch sử (tập trung nghiên cứu bình diện thay đổi và nguyên nhân thay đổi nghĩa của từ), mặt khác tập trung nghiên cứu sâu và có nhiều kiến giải về các bình diện tín hiệu học tiếp nhận từ Đức và Pháp với các công trình tiêu biểu của Ch. * Thời kì cấu trúc luận: Thời kì này bắt đầu khoảng từ sau những năm 20 của thế kỉ XX với sự xuất hiện công trình được xem là nền móng cho ngôn ngữ học cấu trúc là cuốn Cours de Linguistique Générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương) của Ferdinand de 9 luan an Saussure xuất bản năm 1916 cùng với sự xuất hiện nhiều công trình thuộc tính chất thời kì tiền cấu trúc luận.

Những trường phái và tên tuổi lừng danh tại Châu Âu vẫn sống với ngữ nghĩa học thời kì tiền cấu trúc luận với một số công trình theo hướng cũ, đặc biệt một số công trình về lĩnh vực từ nguyên học, từ vựng – từ điển vẫn tiếp tục ra đời. Vì thế, thời kì này nên phân thành hai giai đoạn nhỏ: Từ sau những năm 1920 đến 1960 với những công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa chưa được xem là cấu trúc luận như của S. Zveghinsev,… và từ sau 1960 đến 1980 với những công trình tiêu biểu cho ngữ nghĩa học cấu trúc (phân biệt với ngữ nghĩa tiền cấu trúc), nghiên cứu ngữ nghĩa học theo quan điểm tín hiệu học, của một số nhà ngữ nghĩa học tiêu biểu ở Châu Âu như B. Apresian, John Lyons, Dirk Geeraerts,… Một nhánh ngữ pháp tạo sinh của N.

Chomsky như: Ch. Khuynh hướng nghiên cứu ngữ nghĩa thời kì này gắn với tâm lí thực nghiệm và lôgic toán. Ngữ nghĩa học lôgic hay là ngữ nghĩa học hình thức cũng xuất hiện và phát triển trong thời kì này với các tác giả tên tuổi như: B. Montague,… * Thời kì hậu cấu trúc luận: Thời kì này bắt đầu vào cuối những năm 1950 bằng những báo hiệu với cuộc cách mạng tri nhận, hướng nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận chính thức xuất hiện từ cuối những năm 1960 và phát triển trong những năm gần đây là hướng nghiên cứu mới đặc trưng cho nghiên cứu về ngữ nghĩa thời kì hậu cấu trúc luận.

Nguyên tắc chính của cách tiếp cận theo ngữ nghĩa học tri nhận là khi tiến hành miêu tả nghĩa, cần phải miêu tả những cái biểu diễn tinh thần. Thời kì này xuất hiện các công trình tiêu biểu như Metaphors We Live By (Chúng ta sống dựa vào ẩn dụ) của George Lakoff và Mark Johnson xuất bản năm 1980; Women, Fire, and Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind (Đàn bà, lửa và những vật nguy hiểm: những gì mà các phạm trù tiết lộ về tư duy) của George Lakoff xuất bản năm 1987; Semantics and Cognition (Ngữ nghĩa học và Tri nhận) của Ray Jackendoff 10 luan an xuất bản năm 1983; Cognitive Linguistics – An Introduction (Dẫn luận Ngôn ngữ học tri nhận) của Vyvyan Evans và Melanie Green xuất bản năm 2006;… Như vậy, ngữ nghĩa học tri nhận là tên gọi một khuynh hướng ngữ nghĩa học có cách tiếp cận lí thuyết phân biệt với các khuynh hướng ngữ nghĩa học cấu trúc và ngữ nghĩa học hình thức. Vì đây là một khuynh hướng lí thuyết nên nội dung phạm vi nghiên cứu theo nghĩa rộng hoặc hẹp khác nhau. Theo nghĩa hẹp, ngữ nghĩa học tri nhận được xem như là một bộ phận của ngữ nghĩa học trong ngôn ngữ học nói chung.

Theo nghĩa rộng, ngữ nghĩa học tri nhận có thể được xem như một cách tiếp cận của ngôn ngữ học và gọi là ngôn ngữ học tri nhận. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, ngữ nghĩa học là một chuyên ngành chưa có chiều dày so với ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học, và việc nghiên cứu ngữ nghĩa học thuở đầu gắn liền với từ vựng học. Vì thế, những nghiên cứu ban đầu về ngữ nghĩa học chủ yếu được đề cập trong các công trình nghiên cứu về từ vựng học như cuốn Từ vựng học tiếng Việt hiện đại xuất bản năm 1968 và cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại xuất bản năm 1976 của tác giả Nguyễn Văn Tu, cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt xuất bản năm 1981 của tác giả Đỗ Hữu Châu, cuốn Từ vựng học tiếng Việt xuất bản năm 1985 của tác giả Nguyễn Thiện Giáp,. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến ngữ nghĩa học thuở ban đầu này đã đề cập tới bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ vựng, các quan hệ ngữ nghĩa, hiện tượng đa nghĩa, hiện tượng chuyển nghĩa, hiện tượng trái nghĩa của từ,… Tuy nhiên, vẫn còn rất hiếm những chuyên khảo riêng nghiên cứu về ngữ nghĩa học hay một vấn đề của ngữ nghĩa học.

Công trình nghiên cứu riêng về ngữ nghĩa học xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam là cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của tác giả Đỗ Hữu Châu xuất bản năm 1998, công trình này chỉ bàn riêng về các vấn đề lí thuyết ngữ nghĩa học. Từ đây, ngữ nghĩa học dần được quan tâm như một bộ môn độc lập so với các bộ môn ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học với sự xuất hiện của một số công trình tiêu biểu như cuốn Ngữ nghĩa học của tác giả Lê Quang Thiêm xuất bản năm 2008, cuốn 11 luan an Ngữ nghĩa học - Từ bình diện hệ thống đến hoạt động của tác giả Đỗ Việt Hùng xuất bản năm 2012, cuốn Nghĩa học Việt ngữ của tác giả Nguyễn Thiện Giáp xuất bản năm 2014,… Các công trình này là những công trình nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp tổng quan về tình hình nghiên cứu ngữ nghĩa học với các tri thức chuyên ngành, các khuynh hướng, trường phái và phương pháp tiếp cận riêng, đề cập tới lí thuyết về sự biến đổi nghĩa của đơn vị từ vựng, bàn về bản chất, nguyên nhân và cơ sở của quá trình biến đổi nghĩa cũng như phân loại quá trình biến đổi nghĩa,… Bên cạnh đó cũng xuất hiện những công trình dịch thuật từ các công trình của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về ngữ nghĩa học như cuốn Linguistics Semantics – An introduction của tác giả John Lyons công bố năm 1995 được tác giả Nguyễn Văn Hiệp dịch sang tiếng Việt năm 2009 dưới tiêu đề Ngữ nghĩa học Dẫn luận; cuốn Theories of Lexical Semantics của tác giả Dirk Geeraerts công bố năm 2010 được tác giả Phạm Văn Lam dịch sang tiếng Việt năm 2015 dưới tiêu đề Các lí thuyết ngữ nghĩa học từ vựng. Các công trình này cung cấp một cái nhìn bao quát, toàn diện và cơ bản về các khuynh hướng lí thuyết chính trong ngữ nghĩa học từ vựng, nghiên cứu ngữ nghĩa học trên phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng cho đến ngữ nghĩa của câu và ngữ nghĩa của phát ngôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đối chiếu ngữ nghĩa giới từ không gian trong tiếng Anh và tiếng Việt" của tác giả Lê Thị Hải Chi, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Hiệp, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc so sánh ngữ nghĩa của các giới từ không gian như "OUT, IN, UP, DOWN" trong tiếng Anh với "RA, VÀO, LÊN, XUỐNG" trong tiếng Việt, từ đó làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Phương pháp tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận giúp người đọc hiểu sâu hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh tư duy và văn hóa của mỗi dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học và các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án Tiến sĩ: Văn hóa học quan hệ xã hội trong bối cảnh phi nông nghiệp hóa - Nghiên cứu trường hợp làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội, nơi nghiên cứu về văn hóa và ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội; Luận Văn Thạc Sĩ Về Biểu Tượng Ngôn Ngữ Trong Thơ Của Vi Thùy Linh, khám phá biểu tượng ngôn ngữ trong thơ ca; và Tư tưởng biện chứng trong triết học Nho giáo và tác động của nó đối với Việt Nam, nghiên cứu về triết học và ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.