Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian “OUT, IN, UP, DOWN” trong tiếng Anh với “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” trong tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận" do nghiên cứu sinh Lê Thị Hải Chi thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu (mã số: 9222024), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Hiệp (năm 2020).
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Kể từ khi ngôn ngữ học tri nhận chính thức hình thành vào năm 1989 tại Duisburg (Đức), việc tiếp cận ngôn ngữ từ góc độ tri nhận luận đã mở ra hướng nghiên cứu mới đối với các biểu đạt liên quan đến quan hệ không gian. Các giới từ không gian thể hiện mối quan hệ cơ bản và phức tạp giữa các thực thể thông qua trải nghiệm trong không gian vật chất, làm nền tảng cho quá trình ý niệm hóa để tạo nên các nghĩa phi không gian. Trong tiếng Anh và tiếng Việt, các từ như out, in, up, down và ra, vào, lên, xuống phản ánh rõ nét cách định hướng và tri nhận không gian dựa trên trải nghiệm nghiệm thân của người bản ngữ. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về từng từ riêng lẻ hoặc đề cập đại cương, nhưng trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình nào khảo sát chuyên sâu, có hệ thống và đối chiếu toàn diện ngữ nghĩa của bốn giới từ tiếng Anh này với bốn biểu hiện tương đương trong tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân và mô hình hóa mạng lưới ngữ nghĩa tỏa tia.
-
Mục tiêu nghiên cứu: Luận án vận dụng lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận và lý thuyết trải nghiệm mang tính nghiệm thân để phân tích, lý giải cơ sở nghiệm thân cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn giới từ không gian out, in, up, down trong tiếng Anh và bốn biểu hiện tương đương ra, vào, lên, xuống trong tiếng Việt; từ đó tìm ra các điểm tương đồng và dị biệt về ngữ nghĩa giữa các cặp từ tương ứng.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan: ngôn ngữ học đối chiếu, ngữ nghĩa học tri nhận, giới từ không gian trong hai ngôn ngữ, vai trò của tri thức bách khoa, lý thuyết nghiệm thân và phạm trù tỏa tia.
- Diễn giải sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của out, in, up, down và ra, vào, lên, xuống; xây dựng mạng lưới ngữ nghĩa của chúng theo mô hình tỏa tia.
- Đối chiếu ngữ nghĩa của out với ra, in với vào, up với lên, down với xuống theo cách tiếp cận tri nhận, chỉ rõ điểm giống nhau và khác nhau.
-
Câu hỏi nghiên cứu: Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được xác định trong văn bản:
- Cơ sở nghiệm thân nào cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn giới từ không gian out, in, up, down trong tiếng Anh?
- Cơ sở nghiệm thân nào cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn biểu hiện tương đương ra, vào, lên, xuống trong tiếng Việt?
- Có những điểm giống nhau và khác nhau nào dựa trên cơ sở nghiệm thân cho những hướng mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của out với ra, in với vào, up với lên, down với xuống theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận?
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn giới từ không gian out, in, up, down trong tiếng Anh và bốn biểu hiện tương đương ra, vào, lên, xuống trong tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân.
- Phạm vi: Giới hạn ở việc nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa và mô hình hóa mạng lưới ngữ nghĩa theo sơ đồ tỏa tia dựa trên các quá trình nghiệm thân của bốn cặp từ nêu trên; luận án nghiên cứu sự tương đương về nghĩa gốc và nghĩa mở rộng trên cơ sở nghiệm thân chứ không nghiên cứu tương đương về từ loại cú pháp.
- Nguồn ngữ liệu: Dữ liệu được trích xuất từ các từ điển đơn ngữ và song ngữ (Oxford Advanced Learner’s Dictionary tái bản lần 8 năm 2010, Oxford Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary năm 1993, Từ điển Song ngữ Anh – Việt năm 2014, Từ điển Anh – Việt năm 1996 và 1997, Từ điển Việt – Anh năm 1995, Từ điển tiếng Việt năm 2010, Từ điển tiếng Việt thông dụng năm 2009, Đại từ điển tiếng Việt năm 1999); các trang tra cứu trực tuyến của NXB Đại học Cambridge, Oxford, Macmillan, HarperCollins; cùng các ngữ liệu thu thập trong giao tiếp đời sống và mạng xã hội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu ngữ nghĩa và giới từ không gian theo hai trục thời gian và khu vực địa lý:
-
Tiến trình nghiên cứu ngữ nghĩa học trên thế giới:
- Thời kì tiền cấu trúc luận: Manh nha từ các bài viết về ngữ nghĩa tiếng Latinh của Reizig Berary (1825), Fridrich Haase (1839), Horne Tooke (1850 với Metaphisical Etymology). Ngữ nghĩa học chính thức được xác lập như một bộ môn khoa học nhân văn qua công trình Essai de Sémantique (Science des significations) năm 1877 của Michel Bréal. Giai đoạn này phát triển tại Pháp với Antoine Meillet, Littré Darmesteter, Ch. Bally; tại Đức với Karl Reisig, Friedrich Haase, Agathon Benary, Oskar Hey, Ferdinand Heerdegen theo hướng ngữ nghĩa học lịch sử; tại Anh với Ch. Lady Welly, John Horne Tooke, Richard Ch. Sayce, James Murray.
- Thời kì cấu trúc luận: Bắt đầu từ sau năm 1920 với nền tảng là cuốn Cours de Linguistique Générale (1916) của Ferdinand de Saussure. Giai đoạn 1920–1960 có các nghiên cứu của S. Zveghinsev; giai đoạn 1960–1980 phát triển ngữ nghĩa học cấu trúc và ngữ nghĩa học hình thức/lôgic với B. Apresian, John Lyons, Dirk Geeraerts, B. Montague.
- Thời kì hậu cấu trúc luận và ngôn ngữ học tri nhận: Đánh dấu bằng các công trình của George Lakoff và Mark Johnson (1980 với Metaphors We Live By), Ray Jackendoff (1983 với Semantics and Cognition), George Lakoff (1987 với Women, Fire, and Dangerous Things), Vyvyan Evans và Melanie Green (2006 với Cognitive Linguistics – An Introduction).
-
Tình hình nghiên cứu ngữ nghĩa học tại Việt Nam:
Thuở đầu gắn liền với từ vựng học qua các công trình của Nguyễn Văn Tu (1968, 1976), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985). Chuyên khảo độc lập đầu tiên là Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của Đỗ Hữu Châu (1998), sau đó là Lê Quang Thiêm (2008), Đỗ Việt Hùng (2012), Nguyễn Thiện Giáp (2014); các công trình dịch thuật của Nguyễn Văn Hiệp (2009, dịch John Lyons), Phạm Văn Lam (2015, dịch Dirk Geeraerts). Hướng nghiên cứu tri nhận xuất hiện từ năm 1990 với công trình về nhóm từ chỉ hướng vận động của Nguyễn Lai, bài báo năm 1991 của Nguyễn Tài Cẩn về vào/ra, được đặt nền móng qua các công trình của Lý Toàn Thắng (2005, 2015), Trần Văn Cơ (2007, 2009), Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Hoàng An (2015, dịch David Lee), cùng các luận án của Hoàng Tuệ, Nguyễn Thị Dự, Lê Thị Thanh Tâm, Ly Lan, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thị Hạnh Phương.
-
Nghiên cứu về giới từ và giới từ không gian:
- Cách tiếp cận truyền thống: Trên thế giới có Aristotle, trường phái Alexandria, M. Lomonoxop, A. Xolxev, Bennett (1975 với Spatial and temporal uses of English preposition), Simon Garrod, Gillian Ferrier và Siobhan Campbell, John Lyons (1995). Ở Việt Nam có Đinh Văn Đức (1986), Nguyễn Anh Quế (1988), Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến (1997), Vũ Văn Thi, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Cảnh Hoa, Nguyễn Kim Thản.
- Cách tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận: Trên thế giới có Annette Herskovits (1986), Cornelia Zelinsky-Wibbelt (1993), Priska-Monika Hottenroth (1993), René Dirven (1993), Gilles Fauconnier (1994), David Lee (2001), S. Kurzon (2002), Andrea Tyler và Vyvyan Evans (2003 với The Semantics of English Prepositions: Spatial Scenes, Embodied Meaning and Cognition). Ở Việt Nam có Nguyễn Đức Dân (2005), Lý Toàn Thắng (2005, 2015), Nguyễn Văn Hiệp (2013 với bài báo về ra/vào nhìn từ góc độ nghiệm thân), Trần Quang Hải, Lê Văn Thanh, Đặng Đức Hoàng, Trịnh Thu Hương.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trước chủ yếu xem xét giới từ ở bình diện cấu trúc ngữ pháp hoặc mới phân tích một vài từ đơn lẻ, mức độ khảo sát chưa đồng đều. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về một công trình đối chiếu có hệ thống giữa 4 giới từ không gian tiếng Anh (out, in, up, down) với 4 biểu hiện tương đương trong tiếng Việt (ra, vào, lên, xuống) trên cơ sở lý thuyết nghiệm thân và mô hình hóa mạng lưới ngữ nghĩa tỏa tia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ:
- Bản chất của nghĩa theo ngôn ngữ học tri nhận: Ngữ nghĩa không phải là sự phản ánh trực tiếp hay biểu hiện khách quan độc lập với tư duy, mà biểu đạt các ý niệm có trong tâm trí con người. Cấu trúc ngữ nghĩa chính là sự biểu diện của cấu trúc ý niệm; sự mở rộng ngữ nghĩa là sự phát triển của cấu trúc ý niệm nảy sinh từ quá trình tương tác trải nghiệm của con người với thế giới.
- Mốc/vùng định vị (Landmark – LM): Thực thể được chọn làm điểm quy chiếu trong không gian.
- Người/vật được định vị (Trajector – TR): Thực thể hoặc yếu tố được định vị tương ứng với điểm quy chiếu LM.
- Ý niệm (Concept) và Ý niệm hóa (Conceptualization): Ý niệm là sản phẩm của hoạt động tri nhận chứa đựng tri thức thế giới mang tính phổ quát và đặc thù dân tộc; ý niệm hóa là các quá trình thuộc tinh thần để hình thành nên ý niệm.
- Phạm trù (Category), Phạm trù hóa (Categorization) và Điển mẫu (Prototype): Phạm trù tri nhận có cấu trúc thuộc tính xoay quanh thành viên điển mẫu (chứa nhiều thuộc tính chung nhất) và các thành viên ngoại vi với ranh giới mờ.
- Phạm trù tỏa tia (Radial Category): Mô hình biểu diễn mạng lưới ngữ nghĩa trong đó nghĩa trung tâm (nghĩa gốc) liên kết với các nghĩa phái sinh thông qua các nhánh tỏa tia theo các đường hướng phát triển ý niệm.
- Vai trò của tri thức bách khoa: Việc hiểu nghĩa giới từ không chỉ dựa vào thông tin mã hóa trong đơn vị từ vựng mà phải tích hợp tri thức nền, tri thức đời thường, các quy luật vật lý tự nhiên (như lực hút trọng trường) và suy luận ngữ dụng trong ngữ cảnh.
- Giả thuyết nghiệm thân (Embodiment Hypothesis): Tư duy của con người mang tính nghiệm thân; hệ thống ý niệm và ngôn ngữ bắt rễ từ cấu tạo cơ thể người (dáng đứng thẳng, trục trên – dưới, trước – sau, phải – trái, tầm nhìn của mắt) và môi trường tự nhiên (mặt đất làm mặt phẳng quy chiếu cố định, trời ở trên, đất ở dưới).
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, miêu tả: Phân tích, miêu tả ngữ nghĩa và diễn giải cơ chế mở rộng ngữ nghĩa của từng từ dựa vào cơ sở tri nhận nghiệm thân.
- Phương pháp phân tích ý niệm: Nhận diện các thuộc tính ý niệm cơ bản và cách thức ý niệm hóa không gian thông qua các giới từ.
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Phân tích các yếu tố ngữ cảnh văn hóa – xã hội và tình huống giao tiếp tác động đến sự biến đổi nghĩa.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Áp dụng quy trình đối chiếu một chiều: lấy kết quả miêu tả, phân tích sự phát triển ngữ nghĩa của các giới từ tiếng Anh làm điểm xuất phát để phân tích các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt, từ đó đối chiếu nhằm xác định các điểm tương đồng và dị biệt.
-
Nguồn ngữ liệu: Sử dụng 9 bộ từ điển đơn ngữ và song ngữ xuất bản từ năm 1993 đến 2014, cơ sở dữ liệu trực tuyến của các nhà xuất bản Oxford, Cambridge, Macmillan, HarperCollins, cùng ngữ liệu giao tiếp thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu ngữ nghĩa học qua ba thời kì (tiền cấu trúc luận, cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận); điểm lại tình hình nghiên cứu giới từ không gian theo cách tiếp cận truyền thống và tri nhận luận ở nước ngoài và tại Việt Nam. Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng: LM, TR, ý niệm, phạm trù hóa, điển mẫu, tri thức bách khoa, giả thuyết nghiệm thân và mô hình mạng lưới ngữ nghĩa tỏa tia (Hình 1.1 mô hình hóa sơ đồ của Evans và Green; Hình 1.2 mô hình tỏa tia tổng quát về sự phát triển ngữ nghĩa giới từ không gian). Tác giả xác định rằng trải nghiệm cơ thể của con người trong không gian vật chất là điểm xuất phát để xây dựng hệ tọa độ tri nhận và mở rộng nghĩa sang các miền trừu tượng.
Chương 2: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN “OUT, IN, UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Chương 2 phân tích nghĩa gốc và các nhánh nghĩa phái sinh của 4 giới từ tiếng Anh:
- Giới từ OUT: Nghĩa gốc biểu thị chuyển động của TR từ bên trong ra ngoài biên giới hạn của LM. Các hướng mở rộng ngữ nghĩa gồm: từ ẩn sang hiện/nhìn thấy được (The stars come out); từ hiện diện sang biến mất/không nhìn thấy được (The candles went out); sự phân tán/chia nhỏ; sự vượt ra ngoài phạm vi giới hạn chuẩn mực. Mạng lưới ý niệm được biểu diễn tại Sơ đồ tỏa tia của OUT (Hình 2.1).
- Giới từ IN: Nghĩa gốc biểu thị vị trí tĩnh hoặc chuyển động của TR vào bên trong phạm vi không gian/vật chứa LM. Các nghĩa phái sinh mở rộng sang trạng thái bao hàm, sự tham gia/can dự, sự lưu giữ/kiềm chế và sự duy trì trạng thái xã hội/tâm lý cụ thể, được mô hình hóa tại Sơ đồ tỏa tia của IN (Hình 2.2).
- Giới từ UP: Nghĩa gốc biểu thị hướng vận động từ dưới lên cao của TR theo trục thẳng đứng. Các nhánh nghĩa phái sinh dựa trên các ẩn dụ định hướng: sự gia tăng về số lượng, mức độ, kích thước; trạng thái hoàn thành/kết thúc trọn vẹn của hành động; trạng thái tinh thần tích cực/hạnh phúc, được biểu diễn tại Sơ đồ tỏa tia của UP (Hình 2.3).
- Giới từ DOWN: Nghĩa gốc biểu thị hướng vận động từ trên xuống dưới của TR theo chiều lực hút trái đất. Các nghĩa phái sinh gồm: sự suy giảm về số lượng, mức độ, cường độ; trạng thái tinh thần tiêu cực/suy sụp; sự cố định/lắng dịu hoặc hành vi ghi chép, được thể hiện tại Sơ đồ tỏa tia của DOWN (Hình 2.4).
Chương 3: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Chương 3 khảo sát cấu trúc ngữ nghĩa của 4 từ tương đương trong tiếng Việt:
- Biểu hiện RA: Biểu thị chuyển động từ bên trong ra bên ngoài, từ nơi chật hẹp đến nơi rộng rãi (Lao ra sân); hướng di chuyển về phía Bắc (Từ Nghệ An đi ra Hà Nội); hành động chuyển dịch từ nơi hạn chế cơ hội đến nơi phát triển, có nhiều triển vọng lập nghiệp (Chuyển ra Hà Nội lập nghiệp); sự bộc lộ kết quả, sự phân chia. Mạng lưới ý niệm được mô hình hóa tại Sơ đồ tỏa tia của RA (Hình 3.1).
- Biểu hiện VÀO: Biểu thị chuyển động từ ngoài vào trong vật chứa/không gian kín; hướng di chuyển về phía Nam; sự hội nhập, gia nhập, thu nạp, tiếp nhận hoặc lưu trữ thông tin, được thể hiện qua Sơ đồ tỏa tia của VÀO (Hình 3.2).
- Biểu hiện LÊN: Biểu thị chuyển động từ thấp lên cao theo phương thẳng đứng; hướng chuyển dịch từ nông thôn đến thành thị, đến trung tâm hành chính hoặc cấp bậc quản lý cao hơn; sự gia tăng về số lượng, giá trị, vị thế xã hội, được biểu diễn tại Sơ đồ tỏa tia của LÊN (Hình 3.3).
- Biểu hiện XUỐNG: Biểu thị chuyển động từ trên cao xuống thấp; hướng chuyển dịch về vùng nông thôn, vùng sâu/vùng xa, vùng sông nước; sự suy giảm về số lượng, giá trị, thứ bậc hoặc cường độ, thể hiện tại Sơ đồ tỏa tia của XUỐNG (Hình 3.4).
Chương 4: ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA CÁC GIỚI TỪ KHÔNG GIAN “OUT, IN, UP, DOWN” TRONG TIẾNG ANH VỚI CÁC BIỂU HIỆN TƯƠNG ĐƯƠNG “RA, VÀO, LÊN, XUỐNG” TRONG TIẾNG VIỆT THEO CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Chương 4 thực hiện so sánh, đối chiếu chi tiết từng cặp từ, phân tích điểm tương đồng và dị biệt về cơ chế nghiệm thân, tổng hợp thành 4 bảng đối chiếu chuyên biệt (Bảng 4.1, 4.2, 4.3, 4.4).
Bảng tổng hợp đối chiếu 4 cặp từ theo ngữ nghĩa tri nhận và cơ sở nghiệm thân trong luận án:
| Cặp từ đối chiếu |
Lược đồ nghiệm thân gốc |
Điểm tương đồng tiêu biểu |
Điểm khác biệt tiêu biểu |
| OUT – RA |
Lược đồ vật chứa (Container Schema): Chuyển động từ trong ra ngoài biên giới hạn. |
Cùng phản ánh chuyển động vật lý từ trong ra ngoài; mở rộng sang sự xuất hiện, bộc lộ, tạo ra kết quả và sự phân tán. |
Tiếng Việt (RA) có nghĩa địa lý chỉ hướng Bắc và nghĩa xã hội chỉ sự chuyển dịch đến nơi có nhiều cơ hội thăng tiến mà tiếng Anh (OUT) không thể hiện theo cơ chế tương tự. |
| IN – VÀO |
Lược đồ vật chứa: Chuyển động hoặc vị trí định vị ở bên trong không gian giới hạn. |
Cùng biểu thị sự định vị bên trong hoặc chuyển động xâm nhập vào nội bộ không gian/trạng thái; sự bao hàm, tham gia. |
Tiếng Việt (VÀO) mang nét nghĩa địa lý chỉ hướng di chuyển về phương Nam; sự kết hợp cú pháp sau động từ mang đặc trưng loại hình tiếng Việt. |
| UP – LÊN |
Trục thẳng đứng (Vertical Axis): Hướng vận động ngược chiều trọng lực (từ thấp lên cao). |
Cùng phản ánh ẩn dụ ý niệm "Nhiều hơn là Lên trên" (gia tăng số lượng, mức độ, sự phát triển tích cực, trạng thái tinh thần phấn chấn). |
Tiếng Việt (LÊN) gắn với định hướng không gian địa lý - hành chính (lên thủ đô, lên tỉnh) và địa hình miền núi; tiếng Anh (UP) mở rộng mạnh mẽ sang nghĩa kết thúc trọn vẹn hành động (eat up, clean up). |
| DOWN – XUỐNG |
Trục thẳng đứng: Hướng vận động cùng chiều trọng lực (từ cao xuống thấp). |
Cùng phản ánh ẩn dụ ý niệm "Ít hơn là Xuống dưới" (suy giảm số lượng, mức độ, giá trị, trạng thái tiêu cực hoặc sự lắng dịu). |
Tiếng Việt (XUỐNG) gắn với chuyển động về vùng nông thôn, vùng trũng, vùng sông nước; tiếng Anh (DOWN) biểu thị sự cố định (settle down) hoặc hành vi ghi chép (write down). |
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi mà tác giả đã trình bày, luận án chỉ tập trung khảo sát bốn giới từ không gian điển hình trong tiếng Anh (out, in, up, down) và bốn biểu hiện tương đương trong tiếng Việt (ra, vào, lên, xuống) dựa trên cơ sở nghiệm thân; công trình không nghiên cứu tương đương về mặt từ loại và chưa bao quát toàn bộ hệ thống các giới từ không gian khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng hướng tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu đối chiếu các nhóm từ chỉ không gian khác trong tiếng Anh và tiếng Việt (như on/trên, under/dưới, through/qua...), cũng như khảo sát sâu hơn mối liên hệ giữa ngữ nghĩa tri nhận và chức năng cú pháp của chúng trong văn bản.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, Ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ học Việt Nam (Việt ngữ học) và Ngôn ngữ Anh.
- Giảng viên đại học giảng dạy các môn học: Ngữ nghĩa học, Dẫn luận Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học đối chiếu, Ngữ pháp học tiếng Anh/tiếng Việt và Lý thuyết dịch thuật.
- Người học tiếng Anh, người nước ngoài học tiếng Việt, cùng đội ngũ biên phiên dịch viên.
- Nội dung đáng tham khảo: Phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về nghiệm thân và phạm trù tỏa tia trong Chương 1; các sơ đồ mạng lưới ngữ nghĩa tỏa tia chi tiết của từng từ trong Chương 2 và Chương 3; các bảng tổng hợp đối chiếu ngữ nghĩa trong Chương 4; cùng 4 phụ lục tập hợp hệ thống các động từ kết hợp với out, in, up, down.
Câu hỏi thường gặp
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án là gì?
Trả lời: Đối tượng nghiên cứu là sự mở rộng, phát triển ngữ nghĩa của bốn giới từ không gian out, in, up, down trong tiếng Anh và bốn biểu hiện tương đương ra, vào, lên, xuống trong tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở sự tương đương ngữ nghĩa gốc và các nhánh nghĩa phái sinh theo sơ đồ tỏa tia, không nghiên cứu tương đương về từ loại.
-
Giả thuyết nghiệm thân được luận án vận dụng như thế nào?
Trả lời: Luận án dựa vào giả thuyết nghiệm thân để giải thích rằng sự định hướng và tri nhận không gian bắt nguồn từ cấu tạo cơ thể người (dáng đứng thẳng, trục trên – dưới, trước – sau, hướng nhìn) và môi trường vật lý (mặt đất, trọng lực). Các trải nghiệm vật lý này tạo ra các ý niệm không gian gốc, sau đó được phóng chiếu sang các miền trừu tượng để tạo nên các nghĩa phái sinh phi không gian.
-
Phương pháp so sánh đối chiếu được triển khai theo quy trình nào?
Trả lời: Luận án áp dụng phương pháp đối chiếu một chiều: xuất phát từ việc miêu tả, phân tích sự mở rộng ngữ nghĩa trên cơ sở nghiệm thân của 4 giới từ tiếng Anh (out, in, up, down), sau đó phân tích 4 biểu hiện tương đương trong tiếng Việt (ra, vào, lên, xuống), và tiến hành đối chiếu để xác định các điểm giống và khác nhau giữa từng cặp từ.
-
Nguồn ngữ liệu của luận án được thu thập từ đâu?
Trả lời: Ngữ liệu được thu thập từ 9 bộ từ điển đơn ngữ và song ngữ uy tín của Việt Nam và quốc tế (Oxford, Từ điển tiếng Việt, Đại từ điển tiếng Việt...), các trang tra cứu trực tuyến của Cambridge, Oxford, Macmillan, HarperCollins, kết hợp với ngữ liệu thực tế trong đời sống và mạng xã hội.
-
Cấu trúc ngữ nghĩa của các từ khảo sát được mô hình hóa theo dạng thức nào?
Trả lời: Cấu trúc ngữ nghĩa của từng từ được mô hình hóa theo dạng Sơ đồ mạng lưới ngữ nghĩa tỏa tia (Radial Network), trong đó nghĩa gốc nghiệm thân đóng vai trò trung tâm và các nghĩa phái sinh liên kết tỏa ra các nhánh dựa trên các quá trình mở rộng ý niệm.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Hải Chi là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, vận dụng lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận và giả thuyết nghiệm thân để giải thích cơ chế mở rộng ngữ nghĩa của các từ chỉ không gian. Thông qua việc phân tích và mô hình hóa sơ đồ tỏa tia của các cặp từ out – ra, in – vào, up – lên, down – xuống, công trình đã làm sáng tỏ các điểm tương đồng mang tính phổ quát và những nét dị biệt mang tính đặc thù văn hóa - tư duy giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu đóng góp tư liệu có giá trị cho lý luận ngữ nghĩa học tri nhận, Việt ngữ học, đồng thời mang lại ý nghĩa ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy ngôn ngữ và biên phiên dịch.