Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Những vấn đề chung về biểu tượng 1. Khái niệm biểu tượng Biểu tượng là một thuật ngữ khá quen thuộc, nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Symbolon, tiếng pháp là Symbole, tiếng Anh là Symbol, khi dịch sang tiếng Việt người ta có thể hiểu là biểu tượng hoặc tượng trưng. Tuy nhiên, hai khái niệm tượng trưng và biểu tượng trong tiếng Việt lại không đồng nhất với nhau, thậm chí có cách hiểu khác nhau, để đảm bảo sự thống nhất và tuân thủ cách dịch thuật ngữ thì Symbol được hiểu là Biểu tượng được chấp nhận và sử dụng rộng rãi hơn cả.
Trong lịch sử khi đề cập đến Biểu tượng, theo cách hiểu khởi nguyên, là một vật (có thể là kim loại, mảnh gỗ, vật trang trí) được cắt làm đôi, sau đó được giao cho các bên có liên quan giữ lấy và sau đó, chính vật này sẽ làm dấu hiệu để họ nhận biết lại những thông tin đã trao đổi, giao ước, thề hẹn với nhau. Và lịch sử của biểu tượng cũng xác nhận rằng mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây 12 cối, hoa, quả, thú nuôi…) hay là trừu tượng (hình hình học, con số, nhịp điệu, ý tưởng. Trong ngành khoa học xã hội, biểu tượng và khái niệm biểu tượng cũng được nhiều học giả quan tâm và đề cập đến. Cụ thể: Tác giả Jean Chevalier, Alain Gheerbrant trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới cho rằng: “Nói chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [33, tr.
Với quan điểm này, thì thế giới biểu tượng được xem như một hệ sinh thái nhân văn bao trùm cuộc sống phong phú và đa dạng của con người với rất nhiều địa hạt, nhiều tầng bậc khác nhau, trong đó “các biểu tượng nằm ở trung tâm và là trái tim của cuộc sống giàu tưởng tượng ấy". 11 Trong tiếng Hán, biểu tượng được hiểu như sau: biểu tức là bày ra, trình bày; tượng là hình ảnh, hình dạng. Vậy, biểu tượng là một hình ảnh cụ thể được bày ra, được thể hiện để nhằm biểu thị một ý nghĩa trừu tượng. Như vậy, biểu tượng (Symbol) cho đến nay là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng, nhưng lại có những nội hàm khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt, biểu tượng được hiểu là :1. Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. Kí hiệu bằng hình đồ họa trên màn hình máy tính, tượng trưng cho một chương trình, một file dữ liệu, người sử dụng có thể kích chuột vào đấy để chọn một thao tác hoặc ứng dụng phần mềm nào đó [26, tr. Như vậy, căn cứ vào Từ điển tiếng Việt thì cần hiểu biểu tượng một cách khái quát như sau: Biểu tượng là một hình ảnh tượng trưng, từ một sự vật, hiện tượng cụ thể, gợi ra một khái niệm trừu tượng nào đó khác nó.
Nhà tư tưởng, tâm lý học người Áo, Sigmund Freud đã chỉ rõ: "Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng …" [33, tr.GJung cho rằng vấn đề biểu tượng: “Nó không chỉ là những mảnh nhỏ của vô thức cá nhân mà là một mạch nguồn chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của cộng đồng” [34, tr. Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa cho rằng “Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày, vẫn chứa đựng những mối quan hệ liên can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng. Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che giấu đối với chúng ta”, và tác giả cũng chỉ ra rằng: “Vô thức cộng đồng là cơ sở để tạo ra các mẫu gốc và từ đó phát sinh ra biểu tượng”. Do đó, biểu tượng có khả năng mở ra một thế giới mới đa dạng và phong phú.
12 Dưới góc độ Triết học, cụ thể là triết học Marxist thì tất cả các sự vật trong thế giới khách quan, khi được con người tiếp nhận đều sẽ trở thành biểu tượng: “Biểu tượng cùng với cảm giác và tri giác tạo nên nhận thức cảm tính… tạo nên hệ thống tín hiệu thứ nhất của hiện thực” [12, tr. Biểu tượng là vấn để được nhiều nhà khoa học xã hội nhân văn nghiên cứu, nhưng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật vấn đề biểu tượng được đề cập nhiều hơn cả. Từ điển thuật ngữ văn học (2014), đã đưa ra định nghĩa về biểu tượng như sau: “Trong nghĩa rộng, biểu tượng thể hiện đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” [9, tr. Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực khách quan thông qua hình tượng nghệ thuật, và “Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng” [9, tr.
Cho nên ở góc độ văn học, biểu tượng là một hình thức chuyển mã lời nói, sang những ý nghĩa sâu sắc hơn, có khả năng thể hiện quan niệm, tư tưởng hay triết lý sâu xa về cuộc sống. Như vậy, qua nghiên cứu các quan điểm, các định nghĩa về biểu tượng, chúng ta có thể thấy biểu tượng là một khái niệm quen thuộc nhưng đây lại là một khái niệm khá phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau. Mặc dù khi tiếp cận vấn đề biểu tượng các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đã có những ý kiến, quan điểm khác nhau, song hầu như các ý kiến đều nhất trí rằng: Biểu tượng là những cách thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa nọ, dùng hình ảnh cụ thể để thể hiện một ý nghĩa trừu tượng. Các học giả cũng nhất trí rằng: Biểu tượng là sự thống nhất của hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Và đây cũng chính là hướng mà luận văn tiếp cận để nghiên cứu biểu tượng ngôn ngữ trong thơ Vi Thùy Linh. Phân loại biểu tượng Căn cứ vào nguồn gốc, có thể phân chia biểu tượng thành hai loại cơ bản như sau: 13 Một là, biểu tượng gốc (symbole naturelle), đó là các biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên hoặc phát sinh từ vô thức, chúng biểu hiện quá trình nhận thức, khám phá thế giới của con người. Chẳng hạn như: nước (ao, hồ, sông, suối, sương…). Hai là, các biểu tượng ước lệ, quy ước thỏa ước (symbole conventionelle), đó là các biểu tượng do con người tiếp tục sáng tạo trên cơ sở các biểu tượng gốc trong quá trình phát triển của đời sống văn hóa xã hội.
Thông thường, các biểu tựợng ước lệ là biểu tượng mang tính chất phái sinh trực tiếp thành các mẫu gốc và biểu tượng gốc. Ví dụ: từ biểu tượng bầu trời phát sinh ra mặt trời, mây, sao, gió, mặt trăng… Chính từ sự sáng tạo trên cơ sở biểu tượng gốc mà C. Jung cho rằng: Trong văn học nghệ thuật quá trình sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ, chính là quá trình tìm tòi, sáng tạo [46, tr. Bên cạnh cơ sở phân chia biểu tượng từ nguồn gốc thì có thể phân chia biểu tượng trên cơ sở đặc điểm, đặc trưng.
Có thể xem biểu tượng như là một sự quy ước, sự quy ước đó có thể là của một cá nhân, một cộng đồng hay một dân tộc. Biểu tượng thường được quy ước từ những sự vật, hiện tượng có chất liệu trực quan (bầu trời, nước, con người.) hoặc không có chất liệu trực quan (thời gian, âm thanh,.) và chuyển hóa giữa trực quan và phi trực quan. Trong đó: - Biểu tượng có chất liệu trực quan: thường gắn liền với biểu tượng hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh sử dụng các chất liệu như màu sắc, khối mảng, diễn viên, đạo cụ, hình ảnh chụp, vẽ… tạo ra các biểu tượng hữu hình, vật thể có khả năng tác động trực tiếp vào thị giác con người, gây những ấn tượng cảm tính xác thực mạnh mẽ. - Biểu tượng không có chất liệu trực quan: thường gắn liền với biểu tượng âm nhạc, đặc biệt là biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học.
Sự phân loại đó có thể nhìn nhận ở loại biểu tượng sau: + Biểu tượng văn hóa 14 Tác giả David Hicks, Margazet và A. Gwynne khi bản về Bản chất của văn hóa, đã đưa ra nhận xét về biểu tượng: “Trong tất cả mọi xã hội, biểu tượng là chiếc xe quan trọng để chuyển tải văn hóa. Hoặc là dưới hình thức ngôn ngữ, hành động hoặc là vật thể” [2, tr. Trong văn hóa học, biểu tượng được xem là phương thức để giải mã văn hóa.
Bởi lẽ, con người thể hiện những ý nghĩ và tình cảm của mình nhờ các kí hiệu, nhưng văn hóa lại được thể hiện trong các biểu tượng (biểu tượng trong văn hóa không phải là một ký hiệu thông thường, đó là một loại ký hiệu đặc biệt). Ký hiệu biểu tượng đặc biệt thể hiện như sau: biểu tượng (siêu kí hiệu) -> thế giới phi vật thể, phi trực quan (ý niệm). Về phạm vi tồn tại của biểu tượng văn hóa là trên tất cả các bình diện của xã hội, bao gồm những biểu tượng vật thể và phi vật thể. Đó là những công trình kiến trúc, văn học hay các nghi lễ, thần linh… Xem biểu tượng như là một hình thái biểu hiện ngôn ngữ đặc trưng của văn hóa, Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa International đã đưa ra quan điểm như sau: “Văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” [2, tr.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu biểu tượng là một dạng thức ký hiệu - ngôn ngữ văn hóa. Biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, hiện tượng, ý niệm, …) có khả năng biểu hiện ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hóa nhất định: nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục, thần linh… Nói một cách khác, biểu tượng văn hóa mang tính trực quan và nó tác động mạnh mẽ đến tư duy, cảm xúc của con người. Trong văn hóa phương Đông và văn hóa Việt Nam có những biểu tượng như thế, đó là: Mặt trời, Nước, Lửa, Rồng… và in hằn dấu vết bởi những truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, nghi lễ, phong tục.