phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết. Ð ỀU KIỆN, TIỀ ĐỀ CHO SỰ ĐỜ Ƣ ƢỞNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦA M.CICERO TRONG TÁC PHẨM “B Ề CHÍNH QUYỀN” 1. Ðiều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa Người Hi Lạp trong quá trình phát triển của mình, với việc di cư và mở rộng lãnh thổ đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa cổ đại của vùng Trung Đông. Họ có công rất lớn trong việc phổ cập các đặc điểm của các nền văn hóa này sang Tây Âu.
Với trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng phong phú, người Hi Lạp cổ đại đã xây dựng nên nền văn minh rực rỡ, tạo cơ sở cho văn minh Châu Âu sau này. La Mã cổ đại hay Rome cổ đại là một nền văn minh phồn thịnh, hình thành từ thế kỉ VIII TCN trên bán đảo Italia. Trong suốt 12 thế kỉ tồn tại của mình, qua các cuộc chinh chiến và đồng hóa, La Mã cổ đại đã thống trị các khu vực Nam Âu, Tây Âu, Tiểu Á, Bắc Phi và một phần của Đông Âu. Nhưng với sức hấp dẫn của mình, nền văn minh Hi Lạp đã khiến cho người La Mã chịu ảnh hưởng rất lớn các quan điểm tôn giáo, chính trị, triết học và điêu khắc.
Chính vì vậy, khi xem xét các tư tưởng triết học La Mã các nhà nghiên cứu thường gọi là thời kì “Hi Lạp hóa” hoặc xét chung trong dòng chảy tư tưởng là thời kì “Hi Lạp – La Mã cổ đại”. La Mã cổ đại chia làm bốn thời kì lịch sử: thời kì quân chủ, thời kì cộng hòa, thời kì đế quốc và thời kì sụp đổ. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến đánh giá về thời kì cộng hòa, giai đoạn mà Cicero sinh sống và chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Theo các nhà khảo cổ, La Mã được thành lập vào khoảng năm 753 TCN bởi những người Italic sống ở phía nam sông Tiber.
Thể chế nhà nước ban đầu của La Mã là thể chế quân chủ được xây dựng trên nền tảng xã hội bộ lạc. Đến khoảng năm 551 TCN, với sự chuyên quyền và độc đoán của các ông vua ngày càng khiến nhân dân bất mãn, giới quý tộc đã đứng lên lãnh đạo khởi nghĩa, 10 z đánh dấu mốc cho sự sụp đổ của thời kì vương chính mở ra một giai đoạn mới của La Mã - thời đại của nền cộng hòa, thời đại chứng kiến sự lớn mạnh vĩ đại của quyền lực La Mã. Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, tình hình Cộng hòa La Mã có nhiều thay đổi thể hiện trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội… Về kinh tế, La Mã nằm trên bán đảo Balkan ở phía Nam Châu Âu rất thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, do vậy thương nghiệp của Cộng hòa La Mã rất phát triển. Kinh tế La Mã chủ yếu dựa trên nền tảng là nông nghiệp và thương mại.
Bắt đầu từ thế kỉ II TCN, nông nghiệp La Mã có sự chuyển biến lớn, đó chính là sự tập trung ngày càng nhiều ruộng đất vào tay giai cấp chủ nô, dẫn tới sự xuất hiện của các đại điền trang. Mặc dù cuộc sống trong các đại điền trang này ít nhiều còn mang tính chất tự cung tự cấp nhưng sản phẩm làm ra vẫn chủ yếu là đem bán ra bên ngoài – nghĩa là gắn liền với kinh tế hàng hóa. Do đó mỗi đại điền trang này chỉ bán ra bên ngoài một sản phẩm nhất định như: nho, ô liu… Trong lĩnh vực công thương nghiệp, mặc dù La Mã chưa có máy móc nhưng các chủ nô có trong tay hàng ngàn nô lệ, việc giao lưu buôn bán ở La Mã rất phát triển. Thời kì này La Mã cũng có những đóng góp quan trọng về kĩ thuật cho sự phát triển của nền văn minh thế giới như: chế tạo thủy tinh, sử dụng chì, khai thác than, chế tạo xi măng… Họ cũng là những người đầu tiên biết đặt các thiết bị như guồng nước nhằm lợi dụng thủy năng và chế tạo thuyền buồn.
Kỹ nghệ chế tạo đồ dùng có hoạt động nhỏ nhưng khá nhộn nhịp với các công việc như: khai thác đá, khai thác mỏ… Về xã hội, ngoại trừ tầng lớp nô lệ, xã hội của Cộng hòa La Mã chia thành hai đẳng cấp là giới bình dân và giới quý tộc. Qúy tộc được coi là giai cấp lãnh đạo, ban đầu, chỉ có họ mới có thể được bầu vào các chức quan. Việc lấy nhau giữa các tầng lớp bị cấm và danh hiệu quý tộc chỉ có thể thừa kế, nhưng càng dần đến cuối thời kì Cộng hòa, sự phân biệt quý tộc và bình dân dần lu mờ nhờ vào quá trình đấu tranh kiên trì và gan góc của giới bình dân. 11 z Đầu thời kì Cộng hòa, những công dân bị chia thành các tầng lớp dựa vào vũ khí mà họ có thể mua được cho nghĩa vụ quân sự, tầng lớp giàu nhất theo cách phân chia này là tầng lớp kỵ sĩ (bao gồm cả giới bình dân và giới quý tộc).
Cuối thời Cộng hòa xuất hiện cách phân chia mới, tầng lớp cai trị gọi là quý nhân, thường là những gia đình, dòng tộc đã sản sinh ra một quan chấp chính tối cao. Tuy nhiên, hai cách phân chia này đã chẳng còn ý nghĩa gì sau khi La Mã tiến vào thời kì Đế quốc. Về chính trị, nhà nước Cộng hòa La Mã tồn tại ổn định hằng trăm năm nhờ vào mô hình chính quyền hỗn hợp trụ vững bằng quyền lực của ba bộ phận là: quan chấp chính, viện nguyên lão và hội đồng bộ lạc. Tuy nhiên càng về mốc đầu công nguyên thế cân bằng ấy càng bị phá vỡ.
Cộng hòa La Mã với hơn 450 năm tồn tại đã không thể trụ vững với một loạt các mâu thuẫn âm ỉ từ lâu và hệ quả là việc bị thay thế bởi thời kì đế quốc. Về văn hóa - giáo dục, mục tiêu của La Mã là tạo ra một thế hệ với những nhà hùng biện có ảnh hưởng lớn. Trẻ em bắt đầu đi học rất sớm từ khoảng 6 tuổi và kết thúc học tại trường vào năm 15 tuổi. Họ được học nhiều rất nhiều thứ và những gia đình khá giả sẽ tiếp tục cho con theo học tại các trường hùng biện vào tuổi 16.
Nhờ vào sự phát triển kinh tế thương nghiệp mà người La Mã có điều kiện đi nhiều nơi, tiếp xúc và tiếp thu nhiều nền văn hóa, họ trực tiếp kế thừa và tiếp thu văn hóa của Hi Lạp cổ đại. Ảnh hưởng của văn hóa Hi Lạp thể hiện rất rõ ở các lĩnh vực tôn giáo, văn học nghệ thuật, điêu khắc, triết học và khoa học tự nhiên. “Do đó văn hóa La Mã cùng chung một phong cách với văn hóa Hi Lạp” [28; tr. Cộng hòa La Mã với đất đai rộng lớn và sự đa dạng văn hóa sau quá trình chinh phạt đã tác động không nhỏ trong sự hình thành và phát triển tư tưởng của Cicero.
Ông có thể thuận tiện đi nhiều nơi, học tập nhiều nhà tư tưởng và chính trị gia, đặc biệt là tiếp xúc với văn hóa Hi Lạp. Vì vậy, Cicero yêu mến văn hóa Hi Lạp và đã tìm cách truyền bá văn hóa Hi Lạp vào La Mã mà trước tiên là qua 12 z ngôn ngữ và tư tưởng. Cũng nhờ vậy, ông nhận ra được nhiều khiếm khuyết trong các mô hình nhà nước trong lịch sử và hình thành cho riêng mình ý tưởng về nhà nước lý tưởng. Việc di chuyển tới nhiều vùng đất của Cicero dù theo nghĩa nào cũng khiến ông tiếp xúc được nhiều với các công dân của La Mã, ở gần bên họ và đồng cảm với họ về những khó khăn họ gặp phải do sự chèn ép của địa chủ và giới quan chức.
Không phải ngẫu nhiên mà công dân của Sicily nhờ ông tố cáo thống sứ tham ô và sách nhiễu họ, ngoài sự liêm khiết và công chính trong quá trình hoạt động chính trị, việc tự thăng tiến mà không hề có sự giúp đỡ từ một gia tộc quan chức lâu đời và sự thấu hiểu của ông với công dân cũng là một trong những yếu tố then chốt giúp ông nhận được sự tín nhiệm của người dân. Ngoài ra, việc giao lưu buôn bán rộng rãi của La Mã cũng tác động lớn khiến Cicero có cái nhìn cởi mở hơn đối với người ngoại quốc, khi ông đề nghị cấp quyền công dân cho họ, điều đã được Cicero bàn luận trong “Biện hộ cho Balbus”1. Cicero nhận thấy rõ ràng về việc tầng lớp chủ nô chính là tầng lớp cai trị xã hội, nhưng có lẽ “ý muốn của thần linh” đã khiến Ciceo chưa thể nhìn rõ được vai trò lớn của tầng lớp nô lệ đối với sự phát triển của nhà nước La Mã. Mặc dù vậy, Cicero vẫn cho chúng ta thấy ông có cái nhìn nhạy cảm của một triết gia khi nhận thấy rõ ràng những tệ nạn và bất công xuất hiện trong tầng lớp trung lưu La Mã cũng như mối nguy hiểm khi người dân dần mất niềm tin vào chính quyền.
Những điều này đã tạo động lực để Cicero đấu tranh bảo vệ cho những điều mà theo ông có thể bảo vệ chính quyền và mang lại hạnh phúc cho dân chúng. Mặc dù vậy, sự đấu tranh của Cicero cũng chẳng thể giúp Cộng hòa La Mã tiếp tục tồn tại và phát triển. Chúng ta có thể rút ra các đặc điểm chính của chế độ Cộng hòa La Mã cùng với những nguyên nhân sụp đổ của nó như sau: * Thứ nhất, bất bình đẳng xã hội và những cải cách làm xói mòn nền cộng hòa. 1 Đây là một bài hùng biện được trình bày trong chương 3 của tác phẩm “Bàn về chính quyền”.
13 z Khi nhà nước La Mã mới ra đời, số lượng nô lệ trong xã hội còn ít, nhưng chỉ đến thế kỉ II TCN thì số lượng nô lệ đã tăng vọt khiến cho chế độ nô lệ ở La Mã phát triển mạnh và “dần chuyển từ chế độ nô lệ gia trưởng sang chế độ nô lệ điển hình” [28; tr. Việc tăng lên một cách nhanh chóng số lượng nô lệ dựa vào ba nguồn chính. Thứ nhất, sau các cuộc chinh phạt mở rộng lãnh thổ La Mã đã biến tù binh bại trận thành nô lệ. “Mỗi lần chinh phục được nơi nào La Mã đã biến phần lớn cư dân ở đó thành nô lệ” [28; tr.