Chương 1 MOT SO VAN DE LÍ LUẬN VE XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ CÁP CƠ SỞ HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHÓ HÀ NỘI 1. Đạo đức cách mạng và xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ cấp cơ sở 1. Đạo đức cách mạng 1. Khái niệm đạo đức Khái niệm đạo đức bắt nguồn từ tiếng La-tinh là moral, có nghĩa là 1é thói, đạo nghĩa Trong tiếng Hy Lạp, từ ethicos mang ý nghĩa là luân lí, đạo đức, biểu hiện các mối quan hệ giữa con người với con người trong giao tiếp với nhau hàng ngày Sau nay người ta phân biệt rõ hai khái niệm, moral là đạo đức, ethicos là đạo đức học Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cô đại quan niệm, dao có nghĩa là con đường, đường di của con người trong xã hội, đức dùng để nói đến đức tính, nhân đức Tựu chung lại, đức là biểu hiện của đạo, là nguyên tắc luân lí đạo nghĩa Do đó, đạo đức của người Trung Quốc cô đại chính là những nguyên tắc, những yêu cầu mà thực tại đặt ra dé mỗi người phải tuân thủ và làm theo Ngày nay, khái niệm đạo đức được định nghĩa là một hình thái ý thức xã hội tập hợp những nguyên tắc, chuẩn mực của xã hội, nhằm điều chỉnh đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Từ điển Triết học định nghĩa: “Phạm trù đạo đức học chỉ nhiệm vụ mà con người đứng trước xã hội, giai cấp, một tập thể phải thực hiện, do sự thôi thúc cua dư luận xã hội và động cơ bên trong” [56;tr 315] Trong giáo trình 11 “Đạo đức hoc” có nêu: “Đạo đức là sự thé hiện trách nhiệm đạo đức của con người trước lợi ích chung và lợi ích của người khác, là ý thức về cái cần phải làm và mong muốn được làm vì những lợi ích đó” [24;tr 117] Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu một cách chung nhất về phạm trù đạo đức, đó là: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiễn bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội ” [57; tr.
Dựa vào cách hiểu trên, đạo đức có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhát, chủ thé cần hiểu rõ về những hành động, việc làm và mong muốn của bản thân và thực hiện nó với tất cả sự chân thành, không ngại khó, ngại khổ trên cơ sở của cái đẹp, cái thiện, gắn liền với lý tưởng, lẽ sống và đem lại hạnh phúc, có ích cho cá nhân và xã hội. Trước mỗi suy nghĩ, hành động của mình, các cá nhân phải tự nhận thấy nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong công việc, trước tập thé và xã hội. Thực hiện các nghĩa vụ của đạo đức phải vì sự tốt đẹp, cao cả. Do vậy, nó giúp con người gạt bỏ đi được những dục vọng, ham muốn nhất thời của bản thân, nâng cao sự tự giác trách nhiệm với cộng đồng xã hội.
Ngoài ra, tự giác không chỉ giúp chúng ta đạt được ước nguyện phù hợp với cá nhân mà đó cũng chính là tiếng gọi của xã hội. Thứ hai, trong điều kiện được tự do lựa chon, không bị chi phối bởi hoàn cảnh, sự ép buộc từ bên ngoài hay những vụ lợi từ bên trong thì hành vi đạo đức được thực hiện, nhằm mang lại lợi ích cho bản thân, cho tập thể và xã hội. Trong từng nhiệm vụ được đặt ra đối với mỗi công việc hay trong các hoàn cảnh khác nhau, có địa vị và vai trò khác nhau, chủ thể hành động có quyền được chọn lựa và quyết định có làm hoặc không làm hành vi đó mà 12 không bị một thế lực, sức ép nào ngăn cản, thúc day hanh dong. Tuy nhién, điều đó chi được thực hiện khi cá nhân hiểu va biết được bổn phận cũng như trách nhiệm của mình, chuyển đổi từ các yêu cầu khách quan thành các nhu cầu của bản thân, trở thành mong muốn về đạo đức của mình.
Xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm, mỗi cá nhân thực hiện hành vi đạo đức một cách tự nguyện, tự giác và đạt được thành tích cao nhất. Thứ ba, đạo đức có sự thông nhất, kết hợp hài hòa giữa lý trí, tình cảm của cá nhân với những nhu cầu đạo đức của xã hội; giữa nhận thức, ý chí và hành động của chủ thể. Sự tôn tại va phát triển của xã hội có đặc trưng cơ bản là những hoạt động thực tiễn và lao động của con người. Trong đó, lao động dù dưới bất kỳ hình thức, trình độ nào con người cũng luôn có sự hợp tác, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau.
Từ hình thức lao động một cách độc lập, sự phát triển của lao động đã khiến cho nhu cầu cần hợp tác, tương trợ lẫn nhau của con người xuất hiện trên tinh thần bình dang và tự nguyện. Từ đó, con người dan điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình sao cho hòa hợp với mong muốn, yêu cầu của người khác, khi cần thiết có thé hy sinh quyền lợi của bản thân cho tập thé, cộng đồng, ở mức độ cao nhất là chính là phục tùng ý chí của xã hội. Chính điều này, đã làm cho con người có tính cách tự giác, quan tâm đến các công việc, van đề trong xã hội, không còn vụ lợi và trong họ đã nảy sinh mối quan hệ tình cảm nghĩa vu. Có thé nói, một trong những tiêu chuẩn giá trị cao nhất của ý thức xã hội đó là tình cảm nghĩa vụ.
Tình cảm nảy giúp cho những ham muốn, dục vọng của mỗi cá nhân bị dập tắt dé hành động theo những chuẩn mực của xã hội. Chính từ đây, chủ thé thực hiện hành vi của mình một cách tự giác, tự nguyện bằng sự thúc giục của lương tâm. Thứ tư, đạo đức là sản phâm giữa lý luận và thực tiễn của con người, là sự kết hợp của hoạt động giáo dục và tự giáo dục. Đạo đức được quy định bởi hoạt động sống của con người, lịch sử phát 13 triển của xã hội và là kết quả trực tiếp của giáo dục và tự giáo dục.
Ngay từ khi sinh ra, mỗi người trong chúng ta đã nhận được sự giáo dục từ gia đình, lớn hơn chút nữa có sự chỉ bảo, dạy dỗ của thầy cô, nhà trường. Quá trình này đã dan dần hình thành và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm, bổn phận của con người với chính mình, với người khác và rộng hơn cả là đối với xã hội. Bên cạnh đó, hành vi và ý thức đạo đức của con người ngày một được bồi đắp quá trình hoạt động trải nghiệm thực tiễn trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, dé qua trình ngày một phát triển và có những bước tiến thay đổi cả về chat và lượng thì giáo dục và tự giáo đóng vai trò rất quan trọng.
Chúng ta cần có ý thức tự giác rèn luyện, trau dồi thường xuyên. Có như vậy thì tri thức, tinh cảm và hành vi đạo đức của người mới ngày một được hoàn thiện và phát triển. Thực tế cuộc sống đã chứng minh, chỉ khi cá nhân được học tập, sinh sống va rẻn luyện trong điều kiện, hoàn cảnh thuận lợi thì ý thức và tình cảm đạo đức mới có thé phát triển. Từ cái tất yếu chuyển hóa thành cái hoàn toàn tự do, tình cảm, niềm tin chuyển thành cái thường trực.
Muốn đạt được điều này không có cách nào khác là phải tự giác, siêng năng học tập, lao động, làm việc một cách tự nguyện, công hiến cho nhân dân và xã hội. Thw năm, cơ sở của đạo đức là lợi ich. Nguồn gốc của đạo đức là lợi ích đã phát triển chin mudi của xã hội, là lợi ích của sự tiến bộ xã hội. Chủ thể thực hiện nghĩa vụ đạo đức luôn phải biết đặt lợi ích của tập thê lên trên lợi ích của cá nhân.
Ở đó, trách nhiệm của bản thân được hình thành trước lợi ích của người khác nói riêng và của cộng đồng nói chung. Điều này được thực hiện băng sự thôi thúc của lương tâm dé có thể hoan thành được mọi nhiệm vụ. Vì vậy, ý thức và hành vi đạo đức của chủ thé phải được gan liền với quá trình nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Khái niệm đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh dé cập đến van dé đạo đức của người cách mạng từ rat sớm.
Ban thân Người là hiện thân của DDCM, trong suốt cuộc đời hoạt động 14 cách mạng, Người luôn coi trọng đạo đức và tu dưỡng đạo đức. Người đặc biệt nhắn mạnh sự cần thiết phải giáo dục những giá trị đạo đức mới cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, thanh niên với ý nghĩa là động lực của cách mạng. Hồ Chí Minh có nhiều bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đạo đức cách mạng như: Đường cách mệnh (1927); Sửa đôi lối làm việc (1947); Dao đức cách mạng (1955); Đạo đức cách mang (1958); Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969); Di chúc (1969). Hồ Chi Minh xác định dao đức cách mạng - đó là đạo đức của cán bộ, đảng viên như một sự phân biệt với quan niệm chung về đạo đức của người Việt Nam.
Người có nhiều cách giải thích về đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (1958), Người viết: “Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mang là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lỗi, chính sách của Dang.
Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vi Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lénin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiễn công tác và cùng đồng chí mình tiến bộ ”[38:tr.
Theo Người, những người cán bộ, đảng viên muốn trở thành người cách mạng đúng nghĩa, không có gì là xa vời, khó khăn.