Chương 1 DIEU KIỆN VA TIEN DE RA ĐỜI TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA EPICIRUS 1. Cuộc đời và sự nghiệp Epicirus 1. Cuộc đời của Epicirus Epicirus sinh vào khoảng cuối những năm 40 của thé kỷ IV trước Công nguyên (Tr. Ông sinh ra trong một gia đình nhà giáo trên đảo Samos.
Mặc dù tô tiên của Epicirus là những người nỗi tiếng nhưng cha mẹ ông lại hết sức nghèo khó. Tuy bố của Epicirus - Neocles là thầy giáo và được cấp một mảnh đất nhỏ thừa hưởng từ gia tộc nhưng ông không thể nuôi sống cả gia đình với ba người con trai. Kinh tế nghèo nàn khiến Neocles và vợ ông phải làm việc cật lực. Mẹ của Epicirus phải đi đến các gia đình để làm nghề thầy cúng kiếm tiền trang trải.
Epicirus thường xuyên đi theo giúp mẹ. Có lẽ chính trong thời điểm này, trong đầu Epicirus đã xuất hiện những tư tưởng chống lại sự mê tín tôn giáo. Epicirus học tại lớp do cha ông giảng dạy. Nhiều tài liệu nói rằng Epicirus là một học sinh siêng năng và sớm thể hiện niềm say mê với triết học.
Từ khoảng cuối năm 328 Tr. CN, Epicirus đã bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống các môn khoa học về triết học. Năm 18 tuôi, ông đến Athens và làm việc trong quân đội trong một thời gian ngắn. Sau khi Alexandros Dai dé qua đời, Perdiccas - một trong những tướng [nh quan trọng của Alexandros Đại đế đã trục xuất những người định cư Athena ở Samos tới Colophon, trên bờ biển ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, Epicirus gia nhập với gia đình mình ở đó. Ông học tập dưới su dạy bảo của Nausiphanes, người theo giáo lý của Democritos. CN, Epicirus dạy học ở Mytilene, nhưng gây ra xung đột và buộc phải ra đi. Sau đó ông thành lập một trường học ở Lampsacus trước khi trở lại Athens năm 306 Tr.
Ở đó, ông thành lập Khu vườn - một trường học đặt tên theo khu vườn của ông sở hữu khoảng giữa Stoa và học viện với biệt danh “Vườn Epicirus”. Cổng trường gắn khâu hiệu: “Hỡi các du khách, đây là địa điểm tốt đẹp với các bạn. Hạnh phúc cao nhất ở đây là niềm vui thú” [19; tr. Trước những biến cố nặng nề do cuộc chiến tranh giữa Athens, Macedonia với dé chế La Mã gây ra, Epicirus chủ trương ở an, xa lánh hoạt động chính tri, xã hội, chỉ quan tâm đến việc nghiên cứu triết học và coi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc của con người.
Vườn triết học của Epicirus tiếp nhận mọi hạng người, cả nam lẫn nữ. Trường không thu học phí của học viên, nhưng tùy theo khả năng của mỗi người, ai muốn đóng góp gì thì đóng. Bản thân Epicirus được các học trò tôn sùng và mỗi học viên của Vườn triết học đều phải tuyên thệ: “Tôi sẽ trung thành với Epicirus và sống phù hợp với người mà tôi chọn theo” [48; tr. Epicirus còn là một người thầy thực thụ trên đường đời.
Ông khéo léo quy tụ bạn bè, đồng nghiệp và học trò của mình thành một gia đình của những người có cùng ý chí. Thậm chí những người có quan điểm đối lập với Epicirus cũng thừa nhận rằng ông đã gianh được sự kính trong và yêu mến tột độ của học trò. Dù vậy, Epicirus không trở thành người hống hách hay kiêu căng. Theo nhiều người kê lại, ông là người rất tử tế và quảng đại, đối xử với học trò như bạn bè, không phải thuộc hạ.
Khi nằm trên giường bệnh, ông đã viết một bức thư cho người bạn của mình: “Tôi có một bức tường chống lại mọi nỗi đau đơn này, đó là niềm vui trong lòng, khi tôi hồi tưởng lại những cuộc đối thoại giữa chung ta với nhau” [48; tr. Mặc dù nhiều giáo ly của Epicirus bị ảnh hưởng nhiều bởi các nhà tư tưởng trước đó, đặc biệt là của Democritos, ông đã có sự khác biệt một cách đáng ké với Democritus về các lý luận. Epicirus thường phủ nhận điều anh hưởng này. Lúc còn sống, những người chống đối Epicirus, đặc biệt là những người theo trường phái Khắc kỷ đã không ngừng bôi nhọ và chỉ trích ông là vô đạo đức và làm hư hỏng thế hệ trẻ Athens khi ông ca ngợi những nhục cảm thé xác.
Tuy nhiên, có một số nhà duy tâm cũng cho rằng những chỉ trích này là không có cơ sở. Nhà triết học theo chủ nghĩa theo chủ nghĩa Khắc kỷ nỗi tiếng của La Mã là Lucius Annaeus Seneca đã diing cảm đứng lên bảo vệ Epicirus khỏi những công kích của những người bạn theo trường phái Khắc kỷ. Trong luận văn “Về cuộc sống hạnh phúc”, Lucius Annaeus Seneca đã xác định rõ thái độ của mình đối với Epicirus và trường phải của ông “người dũng cảm cần phải biết ý kiến của mình, mặc dù ý kiến đó có trái ngược với ý kiến của những người nỗi tiếng, ké cả họ là lãnh tụ; rằng với chúng ta, nhất định không nói điều mà mọi người thường nói, bởi bản thân nhà triết học Epicirus và trường phái Epicirus đã bi mang tiếng xấu, bị bôi nhọ và chưa được đánh giá một cách đúng đắn” [19; tr. Nhà hùng biện, triết học nồi tiếng của Roma - Marco Xixeron cho rang, Epicirus là nhà triết hoc có những phẩm chat đạo đức rất đáng quý.
Ông biết sống có chừng mực, tự chủ, dũng cảm và tình yêu bạn bè, gia đình bao la. Ông thực lòng quan tâm tới bàn bè, ứng xử một cách nhân văn với những người nô lệ, bằng lòng với cuộc sống hiện tại, không ưu phiền, tức giận. Đây đều là những phẩm chat mà Epicirus đặt ra cho mình [19; tr. Sau khi qua đời, trường phái của Epicirus thường tô chức lễ kỷ niệm ông mỗi tháng một lần.
Học thuyết của ông được phổ biến nhanh chóng khắp các dân tộc nói tiếng Hy Lạp. Epicirus không kết hôn và không có con. Ông bị sỏi thận, [47; tr. 284] mà ông cuối cùng đã qua đời vi căn bệnh này năm 270 Tr.
Theo truyền thuyết, trước lúc qua đời, Epicirus năm trong bé tắm nước nóng, uông rượu mạnh, chúc mừng va mong muôn bạn bẻ, học trò đừng lãng quên học thuyết của ông và sau đó, ông đã ra đi vĩnh viên ngay trong bé nước nóng nay [47; tr. Sự nghiệp của Epicirus Epicirus trình bày học thuyết triết học của mình trong nhiều tác phẩm, thư từ và các buổi nói chuyện với bạn bè và môn đệ. Số lượng tác phẩm do ông viết có thể lên tới con số 300. Trong đó có 37 tiểu luận về vật lý học, nhiều tiểu luận về tình yêu, thần thánh và các chủ đề khác.
Diogen Laertius cho rằng, “Epicirus là nhà văn - triết học xuất sắc nhất, vượt qua tất cả các nhà triết học khác về số lượng đầu sách” [44; tr. Tuy nhiên, phần lớn di sản triết học đồ sộ và quý giá này của ông đã không còn lưu giữ được đến ngày này nhờ “công lao” của các nhà thần học Thiên chúa giáo. Số còn lại chúng ta lại chỉ được nghe tên. Trong số những tác pham còn được lưu giữ lại thì đáng kế nhất là “Bàn về tự nhiên”, Những bức thư gửi Herodotos, và những đoạn ngăn như “Bàn về nguyên tử và chân không”, “Bàn về mục l đích”, “Ban về thần thánh”, “Bàn về sự tiền định”.
Công trình “Bàn về tự nhiên” được coi là một trong những công trình quan trọng nhất của Epicirus. Công trình này gồm 37 cuốn sách. Một số trích đoạn của tác pham nay được tìm thấy vào cuối thé ky XVIII tại Herculaneum, khi chúng bị chôn vùi dưới lớp nham thạch của núi Vesuvius. Tại một thư viện nghèo nàn của một người theo học thuyết Epicirus, người ta đã tìm thấy hàng loạt các đoạn trích quý giá trong tình trạng mục nát gần hết.
Hiện nay, chúng ta đã có được bốn tác phẩm của Epicirus. Số sách này tuy không lớn, nhưng lại đặc biệt có giá trị về mặt nội dung. Trong số bốn tác phẩm này, có ba bức thư của Epicirus gửi các học trò và tuyên tập các phát ngôn nồi tiếng của Epicirus. Một trong những bức thư được Diogen Laertius cho rằng quan trọng nhất là bức “Gửi Herodotos”.
Bức thư này là tài liệu gần như duy nhất khắc họa quan điêm triệt học tự nhiên của nhà nguyên tử học vi đại Epicirus. Bức 10 thư trình bày dưới dạng sách toát yếu ghi lại những quan điểm triết học tự nhiên của Epicirus. Nó là ban tóm tắt các tác phẩm của ông có liên quan đến việc nghiên cứu các vấn đề nhận thức tự nhiên và những định hướng khi nghiên cứu học thuyết triết học tự nhiên của ông. Bức thư thứ hai - “Gửi Pythocles” chứa đựng những lý giải về hiện tượng vũ trụ và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này.
Có những người cho rằng bức thư này được rút ra từ một trong các tác phẩm khoa học tự nhiên của Epicirus và được ông sử dung dé bổ sung cho bức thư thứ nhất. Bức thứ thứ ba - “Gửi Menoeceus” cùng với tiêu luận ngắn “Các ly thuyết về nguyên tắc”, Epicirus đã giải thích những nguyên lý đạo đức trọng tâm của ông. Trong bức thư này, ông tuyên bố khoái lạc là sự thiện cao nhất, mặc dù một số khoái lạc là không tự nhiên và không cần thiết. Ngược lại với lối hiểu ngày nay về “khoái lạc”, Epicirus phản đối các bữa ăn cao lương mỹ vị và việc chè chén quá độ.
Ông cho răng những lối sống phóng túng như thé không tạo nên khoái lạc bền vững mà thường dẫn tới điều ngược lại là sự đau khô. Vi vậy, Epicirus chủ trương chỉ nên hưởng thụ những khoái lạc tự nhiên - những khoái lạc có khả năng làm cho chúng ta hài lòng và an tâm [48; tr. Ngoài ba bức thu và các tác phẩm nói trên, Epicirus còn có một tác phẩm quan trọng khách viết dưới dạng cách ngôn. Tác phẩm nay được biết dưới tên gọi “Những tư tưởng chủ đạo” hoặc “Những trích đoạn quan trọng” (The Essential of Epicirus), gồm 40 cách ngôn.
Năm 1888, người ta bất ngờ tìm thấy tuyển tập các trích đoạn của Epicirus trong thư viện Vantican. Tài liệu nay được đặt tên là “Tuyền tập các trích đoạn Vantican” và được xem là tác phẩm đề cập nhiều nhất đến các vấn dé mà Epicirus nghiên cứu. “Tuyền tập các trích đoạn Vantican” gồm 81 trích đoạn, được bắt đầu bằng cụm từ: “Thông điệp của Epicirus”. Các trích đoạn 11 này chủ yếu đề cập đến các vấn đề về đạo đức, những ở đó cũng có những thông tin hết sức giá tri về lĩnh vực khoa học tự nhiên của ông.
Tổng quan về hệ thống triết học của Epicirus 1.