chương 1 bám sát theo tiến trình thời gian, từ thời cổ đại đến thế kỷ XIX. Việc trình bày theo logic như vậy sẽ giúp người đọc thấy rõ sự hình thành và phát triển của các dòng tư tưởng XHCN không tưởng thông qua nét đặc thù cũng như tính kế thừa, phê phán của mỗi giai đoạn tư tưởng. Hơn nữa, chương này cũng chỉ ra những giá trị và hạn chế của các dòng tư tưởng XHCN không tưởng nhằm giải thích rõ cụm từ “không tưởng” trong sự tương quan với các dòng tư tưởng XHCN tiếp sau. Những yếu tố tư tưởng xã hội chủ nghĩa sơ khai thời cổ đại Hy Lạp và La Mã cổ đại là những quốc gia có chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình, đặc trưng bởi số lượng nô lệ đông đảo, bởi vai trò quan trọng của họ trong các ngành sản xuất.
Bóc lột sức lao động nô lệ là quan hệ bóc lột chủ đạo trong đời sống xã hội. Giai cấp quý tộc chủ nô và giai cấp nô lệ là hai giai cấp cơ bản mang tính chất đối khàng quyết liệt. Kể cả sau khi chế độ dân chủ chủ nô được Cleisthèns cải cách (508-506 trước Công nguyên ở quốc gia thành thị Athène – Hy Lạp) cũng không thấy có một đạo luật nào nhằm cải thiện đời sống khổ cực của những người nô lệ. Tất cả những cải cách đó chỉ nhằm thay đổi chế độ chính trị và bộ máy Nhà nước.
Mặc dù lao động của những người nô lệ là điều kiện tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ, những cải cách mới làm cho họ đau khổ và càng thêm oán ghét. Đến thế kỷ V và IV trước Công nguyên, xã hội cổ đại Hy Lạp đã đặt được một sự phát triển phồn thịnh về các mặt kinh tế, chính trị và văn hóa. Engels đã nhận xét: “Thương nghiệp, thủ công nghiệp và mỹ nghệ tiến hành theo một quy mô ngày càng rộng, nhờ có lao động của nô lệ, đều đã trở thành những ngành hoạt động chiếm địa vị thống trị” (Marx & Engels, 1971, tr. Người nô lệ không còn được xem như một con người, trái lại họ chỉ là “công cụ biết nói”, là thứ hàng hóa bị đem bán đi, mua lại như một đồ vật, hoàn toàn không có quyền lợi gì về kinh tế, chính trị và văn hóa, kể cả quyền sống và quyền có tên gọi.
Mặc dù giai cấp nô lệ có nhiều loại khác nhau về tính năng lao động và điều kiện sinh hoạt, nhưng nói chung đều bị gạt ra ngoài lề của xã hội. Họ đều có mối căm thù sâu sắc với giai cấp chủ nô. Nhà nước dân chủ chủ nô dù có được tiếp tục, hoàn thiện đến thế nào chăng nữa dưới thời chấp chính của Perikles (461-429 trước Công nguyên) thì nhà nước dân chủ ấy cũng chỉ là nhà nước chuyên chính tàn bạo của giai cấp chủ nô mà thôi. Vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt giữa giai Nguồn: https://khoahoc.tv/top-nhung-su-that-bat- cấp chủ nô và giai cấp nô lệ là không tránh khỏi.
ngo-ve-hy-lap-co-dai-74379 Hình 1. Mua bán nô lệ bằng muối thời Chính Platon (427-347 trước Công nguyên), một nhà cổ đại ở Hy Lạp 8 triết học duy tâm đại biểu cho tư tưởng của giai cấp quý tộc, cũng phải thừa nhận: “mỗi thành thị dù nhỏ bé đến đâu cũng đều chia làm hai khu vực: khu vực của những người giàu và khu vực của những người nghèo. Và chỗ nào có giàu và có nghèo thì chỗ ấy mãi mãi diễn ra cuộc đấu tranh tàn khốc giữa hai phe đối địch”. Thông thường những người nô lệ đấu tranh bằng cách hủy hoại công cụ sản xuất, cướp phá mùa màng, tài sản của quý tộc chủ nô, bỏ trốn… Giai cấp thống trị đã dùng nhiều cơ quan, nhiều biện pháp tàn nhẫn để tầm nã và trừng trị nô lệ bỏ trốn.
Về sau, do sự áp bức, bóc lột của nhà nước chủ nộ ngày càng tăng, ở nhiều nơi, nô lệ đã chuyển sang hình thức đấu tranh tích cực hơn như bạo động có tổ chức, vũ trang khởi nghĩa… Mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ và cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp ấy là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy các quốc gia thành thị Hy Lạp đi đến suy vong. Đó cũng là miếng đất hiện thực làm nảy sinh những yếu tố tư tưởng XHCN đơn sơ. Tuy còn rất thô thiển, nhưng những khía cạnh tư tưởng XHCN đã lấp lánh như những kim loại hiếm trong khối quặng. Đến thế kỉ III trước Công nguyên, diễn ra một phong trào mang tính cách mạng ở Spartacus, nơi có chế độ đặc quyền chiếm hữu ruộng đất và sử dụng lao động nô lệ của tầng lớp đầu sỏ cầm quyền.
Mặc dù phong trào do một số đại biểu quý tộc lãnh đạo, nhưng cơ sở tinh thần của phong trào là nguyện vọng của các tầng lớp bên dưới muốn có ruộng đất và tài sản. Do đó, về mặt khách quan, phong trào mang tính chất quần chúng của một đẳng cấp muốn giành lấy và duy trì chế độ bình quân sở hữu ruộng đất. Những người chiến thắng giữ chủ trương xóa nợ và chia lại ruộng đất của những người Nguồn: https://vi.org/wiki/Spartacus có đặc quyền. Song, họ đã không chống lại được sự Hình 1.
Tranh minh họa Cái chết của phản kháng của bọn đặc quyền nên thắng lợi của Spartacus vẽ bởi họa sĩ Hermann Vogel phong trào không được bảo vệ lâu dài. Về sau, phong (1882) trào lại được nhen nhóm và tiếp diễn bằng cuộc cách mạng mới, đã kiên quyết thực hiện việc chia lại ruộng đất, mở ra một thời kỳ đấu tranh đẫm máu giữa kẻ giàu và người nghèo cho đến khi bị đế quốc La Mã chinh phục. Tuy có những tư tưởng tiến bộ, song phong trào ở Spartacus vẫn duy trì sự bóc lột lao động của nô lệ, vẫn phân chia công dân thành người có đặc quyền và người không có đặc quyền. Cương lĩnh của họ chưa vạch ra được một phương hướng mới nào về tổ chức sản xuất xã hội, mà chỉ có thể gọi đó là những dự án bình quân chủ nghĩa, san bằng lợi ích giữa mọi người, nên không thể coi là XHCN.
Xét về thực chất chủ nghĩa bình đẳng kiểu Spartacus không nhằm thủ tiêu chế độ có giai cấp mà là nhằm bảo vệ một đẳng cấp đang gặp nguy cơ bị thế lực kinh tế tiền tệ đánh bại. Những phong trào này nhằm cứu vãn một chế độ cũ đang hấp hối, do đó mang tính chất phản động về phương diện lịch sử, mặc dù về hình thức đã được thực hiện bằng những biện pháp cách mạng. Do vậy sự thất bại của nó là khó tránh khỏi. Ngoài phong trào Spartacus, những phong trào khác thời cổ Hy Lạp đều có nét chung của chủ nghĩa bình 9 đẳng và chưa có phong trào nào quan tâm thật sự đến số phận những người nô lệ.
Có thể nói, vào thời kỳ này ở xã hội cổ đại Hy Lạp các phong trào ấy chưa phải thực sự là phong trào của quần chúng nô lệ, mà lực lượng tham gia cách mạng chủ yếu chỉ là các tầng lớp nông dân bị mất ruộng, phải vay nợ, những người lao động làm thuê. Những người nông dân chỉ mong thoát khỏi nợ nần và có ruộng đất. Những người lao động làm thuê thì muốn trở lại vị trí của người thợ thủ công độc lập hơn là rơi vào cuộc đời nô lệ, bị đối xử như súc vật trong các công trường. Tóm lại, tất cả các tầng lớp lao động ấy đều có xu hướng đi tới chủ nghĩa bình đẳng, chứ không phải đi tới CNXH, do đó họ thờ ơ với số phận người nô lệ.
Các phong trào quần chúng chống những hậu quả của sự phát triển công thương nghiệp vào thế kỷ V-III trước Công nguyên không phải là miếng đất làm nảy sinh trực tiếp các mầm mống tư tưởng XHCN. Mà những mầm mống tư tưởng ấy lại xuất hiện trong văn học, triết học và các dự án xã hội, chính trị của những trí thức đại biểu cho tư tưởng xã hội của Hy Lạp cổ đại. Nó chứa đựng nội dung phản kháng tiêu cực của các tầng lớp bên dưới đối với những tệ nạn xã hội đương thời. Đó là sự thể hiện những quan niệm về một hạnh phúc “ấu thơ”, về một “thời đại hoàng kim” thuộc buổi bình minh của xã hội loài người.
Vào thời kỳ này, xuất hiện nhiều chuyện thần thoại mang những chủ đề xã hội đồng thời có màu sắc tôn giáo đa thần. Thí dụ: Hēsíodos, một nhà thơ cổ Hy Lạp đã để lại nhiều thần thoại mang tư tưởng phủ định hiện tại, mơ ước trở về với thời đại xa xưa tốt đẹp, bình đẳng, không có bóc lột và sự phân biệt giàu, nghèo giữa người với người, không ai phải lao động nặng nhọc, không hề phải lo âu, phiền muộn. Điều đó hoàn toàn phù hợp với hoài bão và khát vọng của quần chúng bị áp bức. Từ những chuyện thần thoại về “thời đại hoàng kim” hoang dã đã nảy sinh lý thuyết về trạng thái tự nhiên.
Lý thuyết này kịch liệt lên án luật lệ và trật tự xã hội đương thời, lý tưởng hóa trạng thái tự nhiên đầu tiên, không có luật lệ xã hội phức tạp, coi đó là phù hợp với bản chất của tự nhiên và quyền tự nhiên của con người. Lý thuyết về trạng thái tự nhiên dưới dạng thần thoại có ảnh hưởng đến cả Platon, nhà triết học duy tâm, khi ông quan niệm trạng thái nguyên thủy là trạng thái bình đẳng và không cần có quyền lực. Lý thuyết này còn ảnh hưởng đến cả các nhà triết học vốn là học trò của Aristoteles, cũng cho rằng trạng thái nguyên thủy là trạng thái hòa bình, yên ổn, trong đó con người sống bằng những sản phẩm do thiên nhiên đem lại và cho là chính sự tiến bộ về kinh tế sau này đã làm tan rã mất trạng thái xã hội ấy. Có thể nói lý thuyết về trạng thái tự nhiên, đối lập với chế độ chiếm hữu nô lệ, đã trở thành tư tưởng phổ biến trong giới trí thức của xã hội cổ Hy Lạp và là cơ sở triết học của phái khắc kỷ.
Lý thuyết về trạng thái tự nhiên cũng ảnh hưởng đến cả những nhà sử học đương thời. Thí dụ: Herodotos (khoảng 490 đến 425 trước Công nguyên) cho rằng, nếu “thời đại hoàng kim” là ở vào buổi bình minh của xã hội loài người thì cần tìm hiểu dấu vết của thời đại ấy ở những cộng đồng người chưa thoát khỏi thời đại ấy ở những cộng đồng người chưa thoát khỏi thời đại ấy và chưa bị nền văn minh hủy hoại. Ngoài ra lý thuyết về trạng thái tự nhiên nguyên thủy còn làm nền cho những 10 tiểu thuyết viễn tưởng thế kỷ XVI-XVII sau này.