Mở đầu là hoạt động của hội Duy tân do Phan Bội Châu đứng đầu, chủ trương lớn của Hội là kêu gọi thanh niên hưởng ứng Phong trào Đông du sang Nhật để học hỏi. Đầu năm 1907, Phan Bội Châu và các du học sinh bị chính phủ Nhật trục xuất, phong trào thất bại. Ông sang Thái Lan và sau đó sang Trung Quốc tiếp tục thành lập tổ chức Việt Nam quang phục hội vào năm 1912 tiếp tục đấu tranh yêu nước. 16 z Song song với phong trào Đông du, ở trong nước thời kỳ này có phong trào Đông kinh nghĩa thục do Nguyễn Quyền, Lương Văn Can sáng lập.
Hoạt động của trường nhằm chấn hưng việc học, mở mang dân trí, chống bảo thủ, đề cao tinh thần yêu nước, tuyên truyền tư tưởng mới (tư tưởng dân chủ tư sản). Ảnh hưởng của Đông kinh nghĩa thục rất lớn đối với nhân dân và không ngừng mở rộng. Trước ảnh hưởng đó, thực dân Pháp lo ngại phong trào sẽ gây tổn hại cho Pháp nên thẳng tay đàn áp. Tháng 11/1907, trường bị đóng cửa, một số người bị bắt.
Sau năm 1920, một số người mãn hạn tù đày lại tiếp tục đấu tranh ôn hòa công khai như Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can… Đó là cuộc vận động Duy tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp lãnh đạo nhằm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” sôi nổi diễn ra ở khắp Trung kỳ nhưng cuối cùng đều bị thực dân Pháp khủng bố. Chính chủ trương, tư tưởng của Phan Châu Trinh sau này đã ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ và hành động của Nguyễn An Ninh. Cả hai ông đều nhận thức rất rõ phải bổ khuyết phê phán những hạn chế bất cập của văn hoá theo hệ tư tưởng Nho giáo cũ, khôi phục phát triển nền học vấn mới, chấn hưng khí thế nước nhà, nâng cao văn hóa, tư tưởng cho nhân dân sau đó mới đủ sức mạnh để đánh thắng kẻ thù. Trong những năm 20 của thế kỷ XX cùng với hoạt động của các sĩ phu yêu nước, nhiều trí thức Tây học cũng dùng báo chí làm công cụ đấu tranh để bộc lộ những quan điểm chính trị của mình.
Hoạt động báo chí văn hoá đã diễn ra sôi nổi trên cả nước. Có những tờ báo in bằng tiếng Pháp: “Diễn đàn bản xứ” của Bùi Quang Chiêu mang tư tưởng quốc gia cải lương, tờ “Chuông rè” của Nguyễn An Ninh và “An Nam” của Phan Văn Trường đều công khai đả phá chế độ thực dân chống lại chủ nghĩa “Pháp-Việt đề huề”. Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều tờ báo tiếng Việt phản ánh các nguyện vọng về tự do, dân chủ của nhân dân, tuyên truyền tư tưởng văn hoá tiến bộ như: tờ “Tiếng dân” của Huỳnh Thúc Kháng ở Huế, “Pháp-Việt nhất gia” của Trần Huy Liệu, Lê Thanh Lực ở Sài Gòn. 17 z Thời kỳ này còn diễn ra các sự kiện đấu tranh vũ trang kiểu cũ như khởi nghĩa Duy Tân-Huế (6/1916), khởi nghĩa Thái Nguyên (8/1917).
Các cuộc khởi nghĩa này đều không thành công, bị dìm trong bể máu. Những hoạt động đấu tranh sôi nổi trên các mặt trận công khai hợp pháp và cả bí mật bất hợp pháp của nhân dân ta đều có ảnh hưởng đến Nguyễn An Ninh, thôi thúc ông lao vào cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp, khi tuổi đời còn rất trẻ, và tư tưởng của ông đã hình thành từ yêu cầu thực tiễn đó. Từ năm 1925, ở Việt Nam đã xuất hiện những tổ chức tiến bộ và cách mạng: Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng, Thanh niên Cao Vọng Đảng…Thông qua các tổ chức này, tư tưởng Mác-Lênin tích cực được truyền bá vào nước ta thúc đẩy phong trào cách mạng chuyển nhanh theo hướng vô sản. Song song với khuynh hướng này còn có Việt Nam Quốc dân Đảng là tổ chức tiêu biểu nhất theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam do các trí thức tiểu tư sản lãnh đạo.
Nhưng do tổ chức lỏng lẻo, đường lối thiếu triển vọng, thiếu một cơ sở kinh tế và giai cấp đủ mạnh…nên nó không có khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sự phát triển ngày càng cao của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam từ năm 1925 trở đi đã đặt ra một nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có khả năng tập hợp lực lượng dân tộc, gánh vác vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng đất nước. Ở Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng là một trong ba tổ chức cộng sản tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào tháng 8 năm 1929. Đại hội thành lập An Nam cộng sản Đảng năm 1929 được tổ chức tại phòng 1, lầu 2, nhà số 1 đường Nguyễn Trung Trực (thời Pháp thuộc - năm 1929 là đường Philippini), phường Bến Thành quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Với sự ra đời và hoạt động sôi nổi của tổ chức này mà những trí thức có tầm hiểu biết như Nguyễn An Ninh càng vững tin vào thắng lợi của dân tộc sẽ trở thành hiện thực dưới sự lãnh đạo của Đảng hoạt động theo tư tưởng Mác xít. Có thể nói, trong giai đoạn này Nguyễn An Ninh đã tự giác hoạt động như 18 z một người Cộng sản. Sau đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời tháng 2/1930 trên cơ sở thống nhất 3 tổ chức Cộng sản ở 3 miền là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đang dâng cao khắp cả nước càng củng cố sự tin tưởng của Nguyễn An Ninh vào con đường mình đã chọn đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Ngay sau khi ra đời Đảng đã lãnh đạo phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh 1930-1931, phong trào Mặt trận dân chủ 1936-1939, phong trào khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 và giành thắng lợi cách mạng Tháng Tám 1945. Tóm lại, những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị, kinh tế-xã hội ở Việt Nam diễn ra khá phức tạp, có nhiều biến động lớn. Sự biến động đó có nhiều nguyên nhân, từ những vận động biến chuyển mâu thuẫn trong nội bộ nước ta đồng thời cũng chịu tác động mạnh mẽ của những diễn biến trong khu vực và trên thế giới. Những tiền đề này đã chi phối và ảnh hưởng tới tư tưởng, ý thức hệ của các nhà yêu nước Việt Nam trong đó có Nguyễn An Ninh.
Nhân tố tƣ tƣởng cho sự hình thành tƣ tƣởng Nguyễn An Ninh Những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội trong và ngoài nước là điều kiện, nguyên nhân khách quan dẫn đến sự hình thành và phát triển trong tư tưởng Nguyễn An Ninh. Nguồn gốc quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Nguyễn An Ninh không chỉ kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc mà còn chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng khác nhau đang diễn ra trong nước và trên thế giới. Tư tưởng truyền thống, tư tưởng dân chủ tư sản và tư tưởng vô sản Trước hết, đó là những yếu tố tư tưởng truyền thống Việt Nam mà tiêu biểu nhất là chủ nghĩa yêu nước với nội dung chính yếu là độc lập dân tộc và cố kết cộng đồng. Đây vừa là tình cảm là đạo đức, lối sống, vừa là ý thức chính trị 19 z của nhân dân Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc.
Trải qua mọi thách thức, người Việt Nam đã luôn đứng vững trên mục tiêu đó để không ngừng sáng tạo, chọn lọc, tiếp thu, cải biến các tri thức của các luồng tư tưởng tôn giáo, văn hoá, triết học từ bên ngoài vào, sắp xếp lại theo hệ thống của mình làm cho tư tưởng, nhận thức Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú, tiến bộ, hiện đại mà không xa rời bản sắc độc đáo. Nguyễn An Ninh là người kế tục những giá trị tốt đẹp đó của tư tưởng yêu nước truyền thống. Suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam, Nho giáo luôn là hệ ý thức cốt lõi độc tôn của nhà nước. Do bị bế quan tỏa cảng, tầng lớp trí thức Nho học không biết đến phương Tây phát triển kinh tế, kỹ thật như thế nào.
Khi thực dân Pháp xâm lược, triều đình nhà Nguyễn không thể tìm ra một kế sách nào có thể cứu nước hiệu nghiệm. Có thể nói, hệ ý thức phong kiến với cốt lõi là Nho giáo ở Việt Nam lúc đó đã hoàn toàn bất lực khi giải quyết các vấn đề mà lịch sử đặt ra lúc bấy giờ. Một cuộc đi tìm hệ tư tưởng mới, tìm thế giới quan mới, tìm con đường cứu nước của các trí thức diễn ra sôi nổi ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đại diện cho chủ nghĩa yêu nước tiêu biểu giai đoạn này là các nhà Nho yêu nước duy tân Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng luôn trăn trở tìm đường cứu nước, cứu dân.
Họ tiếp thu cái mới, tiến bộ của nhân loại, chủ trương duy tân đất nước theo tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đặc biệt là các trào lưu tư tưởng của phong trào Khai sáng Pháp thế kỷ XVII, XVIII tiêu biểu là các nhà tư tưởng Vônte, Môngtexkiơ, Rutxô. Tư tưởng này vào nước ta theo con đường “Tân văn, tân thư” qua Trung Quốc, Nhật Bản và qua sự tuyên truyền “hình thức” của thực dân Pháp cùng với sự tiếp thu trực tiếp tại phương Tây của người Việt Nam. Người Việt Nam tìm thấy ở đây những yếu tố tiến bộ mới mẻ nhất là tư tưởng chống phong kiến chuyên chế, đồng thời tư tưởng kinh tế tư bản, các học thuyết triết học chính trị, các trào lưu văn học nghệ thuật đã tạo ra sự bừng khởi mà các trí thức yêu nước Việt Nam đang mong mỏi tìm con đường mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mặc dù, trên thế giới vào đầu thế kỷ XX, 20 z tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản đã trở nên lỗi thời, nhưng lúc đó ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nó vẫn đang là những tư tưởng tiến bộ, là nhu cầu của thời cuộc.
So với hệ tư tưởng phong kiến, những khái niệm tư sản về “dân quyền”, “cộng hoà”, “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái” vẫn là khái niệm mới, đem lại một thứ “cách mạng” trong tư tưởng, trong ý thức người Việt Nam đang tìm đường giải phóng.