Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo với khoảng 20 triệu tín đồ vào đầu thế kỷ XXI, chiếm gần một phần tư dân số cả nước. Trong bức tranh chung đó, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị thế đô thị đặc biệt quan trọng với quy mô dân số năm 2006 đạt trên 6,5 triệu người, mật độ trung bình 3.067 người/km2 trên diện tích 2.095 km2. Đây không chỉ là đầu tàu kinh tế đóng góp hơn 20,3% GDP cả nước năm 2002 mà còn là trung tâm giao lưu văn hóa, tôn giáo sôi động bậc nhất với sự hiện diện đầy đủ của các tổ chức tôn giáo lớn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình chuyển dịch tư duy và thực thi chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn bước ngoặt 1990 - 2005.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và đường lối của Đảng về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới; khảo sát, đánh giá thực trạng triển khai chính sách đối với tín đồ, chức sắc, nơi thờ tự, sinh hoạt quốc tế của ba tôn giáo lớn gồm Phật giáo, Công giáo và Tin Lành; nhận diện 100% các mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại địa bàn 24 quận, huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh trong khung thời gian 15 năm (1990 - 2005). Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học giúp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân của hơn 2 triệu tín đồ tại đô thị, đồng thời nâng cao hiệu lực thể chế quản lý nhà nước về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo. Luận văn quán triệt 6 nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong xử lý vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội, đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc tuyệt đối không dùng biện pháp bạo lực để xóa bỏ tôn giáo, kiên trì vận động quần chúng và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết Lương - Giáo, đặt nền móng từ Sắc lệnh số 234/SL năm 1955 với quan điểm cốt lõi nước có vinh thì đạo mới sáng, kính Chúa gắn liền với yêu nước. Khung lý thuyết của đề tài gắn liền với sự phát triển tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam qua hai văn kiện mang tính bước ngoặt: Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị khóa VI và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Các khái niệm trung tâm được vận hành xuyên suốt gồm: tự do tín ngưỡng, thế tục hóa, tính dung hợp văn hóa tôn giáo Nam Bộ, công tác vận động quần chúng và quản lý nhà nước về tôn giáo theo định hướng pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ hệ thống văn kiện chính thức của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước từ Nghị định số 69/NĐ-HĐBT năm 1991, Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Nghị định số 22/2005/NĐ-CP và Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg về đạo Tin Lành. Dữ liệu thực chứng thứ cấp được trích xuất từ báo cáo tổng kết của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh và số liệu thống kê tại 24 quận, huyện.

Về phương pháp thu thập và chọn mẫu, tác giả tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu gồm 320 cơ sở thờ tự trọng điểm đại diện cho Phật giáo, Công giáo và Tin Lành tại 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên. Phương pháp phân tích chủ đạo là sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch và thống kê so sánh đa chiều. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ tính chất phức tạp, nhạy cảm của hiện tượng tôn giáo tại một đô thị đang chuyển mình nhanh chóng (GDP tăng 2,7 lần trong giai đoạn 1990 - 2000); việc tiếp cận liên ngành giữa Chính trị học và Xã hội học tôn giáo giúp bóc tách chính xác các chiều cạnh quản lý, phản ánh khách quan bức tranh thực tiễn trong suốt 15 năm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện chính sách tôn giáo thời kỳ đổi mới đã tạo ra bước tiến vượt bậc trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Sau khi Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 có hiệu lực từ ngày 15-11-2004, hơn 85% nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thuần túy của các tín đồ và tổ chức tôn giáo hợp pháp tại thành phố đã được giải quyết nhanh chóng, minh bạch.

Thứ hai, ba tôn giáo lớn ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ về quy mô và cơ sở vật chất. Phật giáo tiếp tục giữ vị trí đông đảo nhất với hơn 1.000 ngôi chùa, tự viện và hàng triệu phật tử; hệ thống Phật giáo Nam tông, Bắc tông và các tổ chức liên quan như Tịnh độ Cư sĩ Phật hội hoạt động ổn định. Công giáo tại Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sức sống mãnh liệt với hơn 600.000 giáo dân, hàng trăm giáo xứ và mạng lưới hàng chục dòng tu nam nữ hoạt động nhộn nhịp. Đạo Tin Lành sau thời gian dài gặp khó khăn đã từng bước được công nhận và hướng dẫn sinh hoạt theo Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, chuyển hóa hàng chục điểm nhóm chưa đăng ký sang trạng thái sinh hoạt hợp pháp, ổn định.

Thứ ba, các tổ chức tôn giáo tham gia sâu rộng vào công tác từ thiện, y tế, giáo dục mầm non, đóng góp ước tính từ 15% đến 20% các nguồn lực xã hội hóa chăm sóc đối tượng yếu thế tại đô thị.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện vẫn còn những rào cản lớn: khoảng 30% cơ sở tôn giáo còn vướng mắc về thủ tục pháp lý đất đai và quyền sở hữu nhà đất; đồng thời địa bàn thành phố luôn là trọng điểm bị các thế lực bên ngoài tìm cách lợi dụng vấn đề nhân quyền, tôn giáo để tác động chính trị.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ tăng trưởng số lượng tín đồ, chức sắc từ năm 1990 đến năm 2005, kết hợp cùng bảng thống kê phân loại cơ sở thờ tự trên 24 quận huyện nhằm minh họa rõ nét tác động của đô thị hóa tới không gian sinh hoạt tôn giáo. Nguyên nhân chính của những thành tựu đạt được bắt nguồn từ sự đổi mới nhận thức mang tính đột phá của Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990: Đảng ta chính thức thừa nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới.

Sự tăng trưởng kinh tế vượt trội của Thành phố Hồ Chí Minh (GDP năm 2002 đạt 63.689 tỷ đồng, cao gấp 2,5 lần Hà Nội) đã tạo điều kiện vật chất dồi dào để trùng tu, tôn tạo nơi thờ tự và xuất bản hàng triệu ấn phẩm kinh sách. So với các công trình nghiên cứu thời kỳ trước năm 1986 vốn chịu ảnh hưởng của tư tưởng giáo điều, tả khuynh, kết quả của luận văn khẳng định sự hòa hợp Lương - Giáo tại thành phố đã tăng hơn 40%, chứng minh tính đúng đắn của mô hình nhà nước thế tục vô thần nhân văn, biến đức tin tôn giáo thành động lực xã hội đồng hành cùng dân tộc.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế pháp lý và giải quyết dứt điểm các vướng mắc về đất đai tôn giáo. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thiết lập quy trình thẩm định liên ngành, đặt mục tiêu giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ít nhất 90% cơ sở thờ tự hợp pháp trong lộ trình 2006 - 2010.

Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương thức dân vận của đội ngũ cán bộ công chức. Ban Tôn giáo thành phố phối hợp với Học viện Cán bộ xây dựng khung chương trình bồi dưỡng kiến thức tôn giáo học, phấn đấu 100% cán bộ phụ trách công tác tôn giáo cấp quận, huyện và phường, xã đạt chuẩn nghiệp vụ chuyên sâu trước năm 2008.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa và thể chế hóa các hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện của tôn giáo. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành quy chế phối hợp cụ thể, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đóng góp của các cơ sở bảo trợ xã hội tôn giáo lên mức 25% tổng số cơ sở toàn thành phố vào năm 2012.

Thứ tư, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại an ninh trật tự. Lực lượng Công an Thành phố và các cơ quan đối ngoại thiết lập cơ chế giám sát nhạy bén, xử lý 100% các điểm nóng phát sinh tại cơ sở trong vòng 48 giờ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong giai đoạn 2006 - 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn từ 2 nghị quyết then chốt và các số liệu khảo sát thực địa để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo sát hợp với đặc thù đô thị lớn.

Thứ hai, cán bộ quản lý nhà nước về tôn giáo tại các tỉnh, thành phố: Tài liệu là cẩm nang thực hành hữu ích giúp giải quyết các bài toán phức tạp về cấp phép sinh hoạt, quản lý đất đai nơi thờ tự và kỹ năng vận động quần chúng tín đồ tại 24 quận, huyện.

Thứ three, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính trị học, Tôn giáo học, Xã hội học: Công trình cung cấp khung phân tích khoa học, hệ thống tư liệu lịch sử 15 năm (1990 - 2005) phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên sâu.

Thứ tư, chức sắc, chức việc và ban đại diện các tổ chức tôn giáo: Văn bản giúp các nhà tu hành hiểu rõ đường lối, chính sách của Nhà nước, nắm vững quyền lợi và nghĩa vụ công dân để hướng dẫn tín đồ thực hiện phương châm sống tốt đời đẹp đạo.

Câu hỏi thường gặp

Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990 mang lại bước đột phá gì cho công tác tôn giáo? Nghị quyết xác định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và khẳng định đạo đức tôn giáo phù hợp với xã hội mới. Văn kiện đã chuyển trọng tâm công tác tôn giáo từ đấu tranh hành chính sang vận động quần chúng, tạo nền tảng ổn định cho hơn 20 triệu tín đồ cả nước.

Tại sao Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn trọng điểm phức tạp nhất về tôn giáo? Với dân số trên 6,5 triệu người năm 2006 và đóng góp hơn 20,3% GDP cả nước năm 2002, thành phố quy tụ đầu não của Phật giáo, Công giáo và Tin Lành. Mối liên hệ quốc tế nhạy bén khiến nơi đây trở thành tâm điểm chú ý của dư luận trong và ngoài nước.

Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đã tạo chuyển biến thực tế nào tại thành phố? Pháp lệnh năm 2004 cùng Nghị định số 22/2005/NĐ-CP đã chuẩn hóa quy trình pháp lý, giúp hơn 85% nhu cầu phong phẩm, bổ nhiệm chức sắc và tu sửa nơi thờ tự tại 24 quận huyện được giải quyết nhanh gọn, công khai, củng cố lòng tin của đồng bào có đạo.

Luận văn đề xuất giải pháp gì cho bài toán tranh chấp đất đai tôn giáo? Tác giả khuyến nghị UBND thành phố thành lập tổ công tác liên ngành giữa Ban Tôn giáo và Sở Tài nguyên và Môi trường, hướng tới mục tiêu hoàn thành cấp quyền sử dụng đất cho trên 90% cơ sở tôn giáo hợp pháp trong giai đoạn 2006 - 2010.

Chính sách đối với đạo Tin Lành tại thành phố có điểm gì mới trong giai đoạn này? Thông qua việc thực hiện Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chính quyền thành phố đã tích cực hướng dẫn đăng ký hoạt động cho các hệ phái Tin Lành, hợp thức hóa hàng chục điểm nhóm sinh hoạt, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo quy định pháp luật.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc tiến trình 15 năm thực hiện chính sách tôn giáo (1990 - 2005) tại trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nhất cả nước.
  • Khẳng định tính cách mạng của việc chuyển đổi phương thức quản lý tôn giáo sang công tác vận động con người theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW và Nghị quyết số 25-NQ/TW.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển của Phật giáo, Công giáo và Tin Lành trên địa bàn 24 quận, huyện với dữ liệu thực chứng tin cậy.
  • Chỉ rõ các nguyên nhân kinh tế - xã hội đằng sau sự phục hồi tôn giáo trong bối cảnh GDP thành phố tăng 2,7 lần.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đến năm 2015.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa tự do tín ngưỡng và sự ổn định chính trị - xã hội tại đô thị đầu tàu. Để tiếp tục phát huy giá trị nghiên cứu, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị trên vào quy hoạch phát triển đô thị giai đoạn tiếp theo. Hãy cùng chung tay xây dựng một môi trường tín ngưỡng lành mạnh, đoàn kết hòa hợp dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.