Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9 22 90 40) với đề tài "Văn hóa của gia đình Phật tử tại Đà Nẵng" do nghiên cứu sinh Hoàng Thị Mai Sa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Lan Phương, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xã hội đương đại chứng kiến sự hồi sinh và phát triển của các tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Phật giáo. Trước những áp lực về học tập, kinh tế, đời sống gia đình cùng sự bủa vây của bạo lực và tệ nạn xã hội, niềm tin xã hội có xu hướng suy giảm; con người tìm đến tôn giáo như điểm tựa tinh thần để giải tỏa căng thẳng và chữa lành. Thanh thiếu niên là nhóm chịu tác động mạnh mẽ nhất trước những biến đổi này, đặt ra yêu cầu định hướng lý tưởng sống và kỹ năng ứng xử trên nền tảng đạo đức Phật giáo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã chủ trương khuyến khích mở rộng các hội đoàn Phật giáo dành cho giới trẻ, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ chín (Khóa XI) về việc phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, khuyến khích hoạt động "tốt đời đẹp đạo".

Tại thành phố Đà Nẵng, Gia đình Phật tử (GĐPT) là hội đoàn Phật giáo ra đời từ giữa thế kỷ XX, trải qua nhiều biến thiên lịch sử và phục hưng vào đầu thế kỷ XXI. Trước đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung mô tả lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động tôn giáo của GĐPT cùng tác động tích cực đến đời sống xã hội. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: sự chuyển dịch trong cơ cấu vận hành tổ chức, tính linh hoạt trong triển khai sinh hoạt, các mối quan hệ tương tác nội bộ và tác động giáo dục đạo đức đối với những thành viên mới (những người trước đó chưa từng quy y Tam bảo hoặc không có người thân đi chùa) vẫn chưa được giải quyết thấu đáo dưới góc nhìn của Văn hóa học.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là tìm hiểu quá trình tham gia, thực hành văn hóa giáo dục của GĐPT tại Đà Nẵng; làm rõ sự lan rộng của mô hình hội đoàn Phật giáo nhằm giáo dục đạo đức thanh thiếu niên; đóng góp cơ sở dữ liệu vào các thảo luận về phương thức liên kết xã hội, tính linh hoạt giáo dục và phẩm chất người Phật tử trong xu thế thế tục hóa, qua đó phác họa bức tranh văn hóa - xã hội đương đại.

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. GĐPT tại Đà Nẵng được cơ cấu và vận hành như thế nào?
  2. GĐPT tại Đà Nẵng triển khai các thực hành văn hóa giáo dục ở khía cạnh tu học giáo lý Phật giáo, rèn luyện kỹ năng, phẩm chất cho Đoàn sinh và Huynh trưởng như thế nào? Về phía mình, các Đoàn sinh, Huynh trưởng vận dụng Phật pháp vào cuộc sống thường nhật ra sao?
  3. Qua tổ chức GĐPT tại Đà Nẵng, chúng ta hiểu gì về phương thức liên kết xã hội, giá trị nổi bật của tổ chức Phật giáo này là gì, và vai trò của GĐPT trong đời sống văn hóa, xã hội đương đại?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa của gia đình Phật tử với các thành tố văn hóa tổ chức (cơ cấu, đặc điểm, các mối quan hệ bên trong) và thực hành văn hóa giáo dục (tu học Phật pháp, rèn luyện kỹ năng, rèn luyện nhân cách đạo đức).
  • Phạm vi nội dung: Quá trình hình thành, cơ cấu, đặc điểm và các thực hành văn hóa giáo dục của GĐPT tại Đà Nẵng; cách thức tạo lập, củng cố liên kết xã hội và chia sẻ tình Lam giữa các thành viên.
  • Phạm vi không gian: Thành phố Đà Nẵng. Tính đến năm 2023, toàn thành phố có 57 đơn vị GĐPT phân bố trên 6 quận và 1 huyện. Tác giả chọn khảo sát trọng tâm tại 4 địa bàn: quận Hải Châu, quận Thanh Khê, quận Liên Chiểu và huyện Hòa Vang.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 11 năm, từ năm 2012 đến năm 2023. Mốc 2012 gắn với Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (thành lập Phân ban Thanh thiếu niên Phật tử thuộc Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương) và Thông tư số 170/TT/BHDPT ngày 17/10/2013 chỉ đạo phát triển GĐPT và câu lạc bộ thanh thiếu nhi cơ sở.
Địa bàn quận / huyện tại Đà Nẵng Số lượng GĐPT trực thuộc (năm 2023)
Quận Hải Châu 09 đơn vị
Quận Thanh Khê 12 đơn vị
Quận Sơn Trà 11 đơn vị
Quận Liên Chiểu 07 đơn vị
Quận Cẩm Lệ 06 đơn vị
Quận Ngũ Hành Sơn 03 đơn vị
Huyện Hòa Vang 09 đơn vị
Tổng số toàn thành phố 57 đơn vị

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo ba nhóm chủ đề:

Nhóm nghiên cứu về tổ chức Phật giáo Việt Nam: Các tác giả Thích Minh Châu (1988), Đoàn Trung Còn (1995), Phạm Kim Khánh (dịch, 1998), Lê Mạnh Thát (1999), Thích Chơn Thiện (2000) đã phân tích cơ sở hình thành Tăng đoàn từ thời Đức Phật. Thích Trí Quang (1952) trong Tăng già Việt Nam đã hệ thống hóa tổ chức xuất gia (Giáo hội Tăng già Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt) và tổ chức cư sĩ tại gia (Hội Phật giáo Bắc kỳ, Hội Phật học Trung Việt, Hội Phật học Nam Việt). Thích Trí Hải (2004) ghi lại tiến trình vận động thống nhất Phật giáo. Thích Ân Thuận (2011) trong Phật pháp khái luận làm rõ bản chất Tăng đoàn và phân loại tín đồ. Lê Tâm Đắc (2012) nghiên cứu phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc (1924-1954), chỉ ra sự ra đời của các hội đoàn Phật giáo mang ảnh hưởng phương Tây. Lê Tâm Đắc và Nguyễn Đắc Sự (2011) khảo sát các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, khẳng định GĐPT là tổ chức có quy củ và hoàn chỉnh nhất so với các nhóm Thanh niên Phật tử, Sinh viên Phật tử. Nghiên cứu cộng đồng của Đào Thế Đức (2008) tại Yên Tử và Nguyễn Thị Thanh Loan (2020) tại chùa Hương đã bàn luận về sự phục hồi tôn giáo, quyền lực giới và mạng lưới liên kết cộng đồng qua thực hành hành hương.

Nhóm nghiên cứu về Gia đình Phật tử thế giới và Việt Nam: Trên thế giới, Katz (2019) nghiên cứu lý tưởng "gia đình được Phật hóa" qua tác phẩm của cư sĩ Chen Hailiang (1910-1983) tại Trung Quốc. Kongsuwan W., Chaipetch O., Matchim Y. (2012) khảo sát GĐPT Thái Lan về trải nghiệm chăm sóc bệnh nhân tại phòng hồi sức tích cực (ICU) và quan niệm về 5 yếu tố cốt lõi của một cái chết êm đềm dựa trên đức tin từ bi. Tại Việt Nam, Trần Thiều (2006) khái lược lịch sử Phật giáo Thừa Thiên - Huế (1930-1945), xác định tiền thân của GĐPT là Đoàn Phật học Đức dục, Gia đình Phật hóa phổ (GĐPHP) và Hội nghị năm 1950 tại chùa Từ Đàm chính thức đưa ra danh hiệu GĐPT. Dương Thanh Mừng (2015, 2017, 2019) nghiên cứu phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung gắn với vai trò của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969). Kỷ yếu hội thảo năm 2019 và bài viết của Nguyễn Thị Minh Nguyệt khẳng định đóng góp của Lê Đình Thám trong việc lập nên tổ chức GĐPT. Thích Minh Châu (1952) khẳng định mục đích GĐPT là tạo dựng đời sống chân chánh cho thanh thiếu niên chứ không phải công cụ chính trị. Nguyễn Thị Minh Ngọc (2009) dẫn số liệu khảo sát năm 2003 của Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết 97,47% người được hỏi quan tâm đến GĐPT và 85,51% đánh giá sinh hoạt GĐPT có tác động tốt đến thanh thiếu niên. Lê Văn Đính (2002) phân tích vấn đề đoàn kết, tập hợp thanh thiếu niên Phật giáo miền Trung dưới góc độ chính trị học. Ngô Văn Trân (2011) mô tả nội dung giáo dục đạo đức của GĐPT Thừa Thiên - Huế trong cơ chế thị trường.

Nhóm nghiên cứu về Phật giáo và GĐPT tại Đà Nẵng: Lịch sử Phật giáo xứ Quảng được ghi nhận sớm qua bài viết về chùa Long Thủ trên tạp chí B.A.V.H, các khảo cứu bia ký của Lê Xuân Thông (2014, 2016, 2018), Thích Chơn Phát (1970) và Thích Hân Sơn (1972) về danh tăng Ngũ Hành Sơn. Nghiên cứu của Trần Văn Giàu (1993), Nguyễn Tài Thư (1997), Đặng Thị Lan (2006), Đào Tấn Thành (2020) làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa, đạo đức người Việt. Về GĐPT Đà Nẵng, báo cáo khoa học của Đoàn Thanh niên - Hội LHTN Việt Nam TP Đà Nẵng (2002) đề cập giải pháp tập hợp thanh thiếu niên Phật giáo nhưng chỉ giới hạn ở độ tuổi đoàn viên. Kỷ yếu 60 năm GĐPT Đà Nẵng (1950 - 2010) ghi nhận 4 đơn vị GĐPHP đầu tiên thành lập năm 1950 tại các chùa Pháp Lâm, Long Thọ, Hải Lạc, Tân Hòa.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu khai thác GĐPT từ lăng kính tôn giáo học, lịch sử học hoặc chính trị học. Luận án chọn hướng tiếp cận Văn hóa học, xem GĐPT là mô hình thực hành văn hóa giáo dục cộng đồng. Tác giả tập trung giải quyết: cơ cấu tổ chức và tính chất mở của GĐPT Đà Nẵng trong thế kỷ XXI; sự thích ứng của các phương thức giáo dục truyền thống với công nghệ số; và cách thức các thành viên kiến tạo, củng cố các mạng lưới liên kết xã hội dựa trên niềm tin tôn giáo.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Lý thuyết Nhân học diễn giải (Interpretive Anthropology): Luận án vận dụng quan điểm của Clifford Geertz trong tác phẩm The Interpretation of Cultures (1973), coi văn hóa là mạng lưới ý nghĩa mà con người tự giăng ra; nghiên cứu văn hóa không phải là khoa học thực nghiệm tìm quy luật mà là khoa học diễn giải đi tìm ý nghĩa. Phương pháp "mô tả sâu" (Thick Description) được áp dụng nhằm khám phá động cơ, ý hướng ẩn sau các hành vi nghi lễ, châm ngôn và diễn ngôn của thành viên GĐPT theo quan điểm người trong cuộc (emic).
  • Khái niệm Văn hóa: Luận án sử dụng định nghĩa của Gary Ferraro (1995), chia văn hóa thành ba thành tố: những gì con người có (vật chất), con người nghĩ (tư tưởng, niềm tin) và con người làm (hành vi ứng xử).
  • Khái niệm Văn hóa tổ chức: Tiếp cận định nghĩa của E. Schein và M. Jacobs, nhìn nhận văn hóa tổ chức là hệ thống giá trị, niềm tin, quy phạm và truyền thống điều tiết hành vi của các thành viên.
  • Khái niệm Gia đình và Văn hóa gia đình: Kết hợp định nghĩa của John J. Macionis (2004) và quan điểm nhân học hiện đại về gia đình như một tập thể chia sẻ niềm tin và trách nhiệm tinh thần; sử dụng định nghĩa của Lê Ngọc Văn (2011) về văn hóa gia đình như hệ thống chuẩn mực điều tiết mối quan hệ nội bộ và quan hệ xã hội.
  • Khái niệm Gia đình Phật tử: Tác giả định nghĩa GĐPT là một tổ chức/hội đoàn Phật giáo được cơ cấu chặt chẽ, sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của GHPGVN và pháp luật hiện hành, nhằm giáo dục, đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính làm chủ đạo, kết hợp các kỹ thuật thu thập dữ liệu điền dã:

  • Quan sát tham dự: Thực hiện các đợt điền dã năm 2019 (từ tháng 7 đến tháng 12/2019 tại 3 GĐPT vào chiều Chủ nhật hàng tuần từ 14h đến 17h30, lễ Hiệp kỵ, lễ Chu niên, hội trại); giai đoạn 2020-2021 bị gián đoạn bởi dịch bệnh Covid-19 được thay thế bằng quan sát trực tuyến qua Zoom, Google Meet và fanpage Facebook; giai đoạn đầu năm 2022 đến cuối năm 2023 tiếp tục quan sát tham dự định kỳ tại các GĐPT cấp quận, huyện.
  • Phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố: Thực hiện với 50 người cung cấp tin, sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc và câu hỏi mở. Để đảm bảo đạo đức nghiên cứu, danh tính người trả lời được viết tắt.
  • Tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập và đối chiếu các báo cáo tổng kết Phật sự của Ban Trị sự GHPGVN TP Đà Nẵng, văn bản chỉ đạo của Ban Hướng dẫn Phật tử, tài liệu thống kê địa phương và kỷ yếu tổ chức.
Nhóm đối tượng phỏng vấn sâu Số lượng Độ tuổi / Đặc điểm nhân khẩu
Gia trưởng 03 người Trên 70 tuổi
Liên đoàn trưởng 02 người Từ 45 đến 50 tuổi
Huynh trưởng kỳ cựu 08 người 07 người từ 50 - 66 tuổi; 01 người từ 40 - 50 tuổi
Huynh trưởng trẻ 04 người Từ 25 đến 35 tuổi
Đoàn sinh GĐPT 08 người Từ 12 đến 22 tuổi
Phụ huynh Đoàn sinh 06 người Cha mẹ, ông bà đưa đón con em
Sư trụ trì, Tăng Ni bảo trợ 04 người Trụ trì tại các chùa có GĐPT sinh hoạt
Người đi chùa 05 người Phật tử và người dân đi lễ chùa tại địa phương
Người từng tham gia GĐPT 06 người Cựu thành viên đã rời tổ chức
Tổng số người phỏng vấn sâu 46 người* *Ngoài ra phỏng vấn ngắn 3-5 người dân quanh mỗi chùa

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu

Chương này hoàn thiện hệ thống cơ sở lý thuyết, tổng quan tài liệu và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế, xã hội, lịch sử Phật giáo tại địa bàn nghiên cứu:

  • Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.283,42 km² (nội thành 241,51 km², ngoại thành 1.041,91 km²), gồm 6 quận và 2 huyện (Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa). Đà Nẵng là đô thị loại I, hạt nhân kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
  • Phật giáo du nhập vào Đà Nẵng từ thế kỷ XIV (thiền sư Minh Phước Quảng tu tại động Hoa Nghiêm - Ngũ Hành Sơn; sư Từ Tâm lập chùa Thái Bình). Phật giáo Bắc tông chiếm vị trí chủ đạo tuyệt đối tại địa phương.
  • Số liệu Báo cáo tổng kết Phật sự qua 4 nhiệm kỳ (1997 - 2017) của GHPGVN TP Đà Nẵng cho thấy sự gia tăng về cơ sở thờ tự, nhân sự Tăng Ni và đạo tràng Phật tử:
Loại hình cơ sở thờ tự Phật giáo 1997 - 2002 2002 - 2007 2007 - 2012 2012 - 2017
Chùa Bắc tông 99 101 108 110
Chùa Nam tông 1 1 1 1
Tịnh xá Khất sĩ 2 2 2 3
Tịnh thất 7 4 6 2
Niệm Phật đường 2 2 - 1
Phật đài 1 1 - -
Tổng số cơ sở tự viện 112 111 117 117

Số lượng Tăng Ni tăng 1,4 lần, từ 544 vị (1997 - 2002) lên 731 vị (2012 - 2017); trong đó Bắc tông chiếm hơn 94%, Tăng Ni Khất sĩ ổn định 22 - 23 vị, Nam tông ổn định 6 vị. Các đơn vị đạo tràng tăng từ 81 đơn vị (7.595 đạo hữu giai đoạn 2007 - 2012) lên 125 đơn vị (14.620 đạo hữu giai đoạn 2012 - 2017), bao gồm đạo tràng Bát Quan Trai (6.715 người), Pháp Hoa (3.135 người), Niệm Phật (2.520 người), Một ngày An lạc (2.050 người), Thiền định (70 người) và các lớp giáo lý (130 người).

Về lịch sử GĐPT Đà Nẵng: Năm 1950, 4 Gia đình Phật hóa phổ đầu tiên ra đời tại các chùa Pháp Lâm (Thiện Ái), Long Thọ (Long Hoa), Hải Lạc (Hải Hòa), Tân Hòa (Tân Định); năm 1951 chính thức đổi tên thành GĐPT. Năm 1955 mở trại huấn luyện Đội Chúng Trưởng mang tên Tâm Huệ Cao Chánh Hựu. Năm 1957 có 12 Gia đình với 1.000 đoàn sinh; năm 1963-1964 tăng lên 25 Gia đình với 2.000 đoàn sinh. GĐPT Đà Nẵng từng tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng năm 1963 và bảo vệ chủ quyền năm 1966.

Chương 2: Nhận diện gia đình Phật tử tại Đà Nẵng

Chương 2 mô tả diện mạo văn hóa tổ chức của GĐPT Đà Nẵng qua cơ cấu, quy mô, đặc điểm và các mối quan hệ:

  • Cơ cấu và quy mô: Hệ thống quản lý được phân định từ Trung ương (Phân ban GĐPT Trung ương thuộc Ban Hướng dẫn Phật tử GHPGVN) xuống cấp tỉnh/thành phố và Ban Huynh trưởng cơ sở. Địa bàn Đà Nẵng tồn tại song song hai nhóm quy mô: các GĐPT truyền thống (thành lập từ thế kỷ XX, số lượng đoàn sinh đông, cơ sở vật chất ổn định) và các GĐPT hiện đại (thành lập trong thế kỷ XXI, quy mô nhỏ, linh hoạt).
  • Đặc điểm tổ chức:
    • Kết nối dựa trên niềm tin Phật giáo: Các thành viên gắn kết dựa trên đức tin Tam bảo và lý tưởng phụng sự.
    • Đa dạng thành phần và nhu cầu gia nhập: Thu hút thanh thiếu niên từ 7 đến 22 tuổi (phân chia thành ngành Oanh, Thiếu, Thanh); mở rộng tiếp nhận con em các gia đình chưa quy y Tam bảo nhưng có nhu cầu rèn luyện phẩm hạnh.
    • Thống nhất tôn chỉ, mục đích, châm ngôn: Thực hiện nghiêm tôn chỉ đào tạo thanh thiếu đồng niên thành Phật tử chân chính; vận hành theo châm ngôn "Bi - Trí - Dũng".
    • Linh hoạt trong điều hành của Huynh trưởng: Thích ứng phương thức điều hành trước áp lực mưu sinh và lịch học tập dày đặc của thanh thiếu niên đô thị.
  • Các mối quan hệ nội bộ: Mối quan hệ giữa GĐPT với Ban Trị sự GHPGVN thành phố; quan hệ gắn kết và phụ thuộc vào sự trợ duyên của Sư trụ trì tại chùa bảo trợ; vai trò kết nối của Gia trưởng và Liên đoàn trưởng; và đặc biệt là "tình Lam" - biểu tượng tinh thần gắn kết huynh đệ bền chặt, nâng đỡ nhau trong Phật sự và đời sống thế tục.

Chương 3: Thực hành văn hóa giáo dục của gia đình Phật tử tại Đà Nẵng

Chương 3 đi sâu phân tích ba trục nội dung thực hành văn hóa giáo dục:

  • Tu học Phật pháp: Giảng dạy chương trình giáo lý phân cấp theo các bậc học chuẩn hóa của GHPGVN (bậc Mở Mắt, Cánh Mềm, Chân Cứng, Tung Bay cho Oanh vũ; bậc Hướng Thiện, Sơ Thiện, Trung Thiện, Chánh Thiện cho ngành Thiếu; bậc Kiên, Trì, Định, Lực cho Huynh trưởng). Giáo lý được chuyển tải sinh động qua văn nghệ Phật giáo, trò chơi vận động và sinh hoạt chuyên đề.
  • Rèn luyện kỹ năng: Hệ thống hóa kỹ năng vận động (thể dục, phản xạ, trò chơi lớn), kỹ năng sinh tồn (cắm trại, nút dây, nhận tín hiệu Morse, Semaphore, phương hướng, nấu ăn dã ngoại, sơ cấp cứu) và kỹ năng quản lý (tổ chức đời sống tự quản đội chúng, điều hành tập thể).
  • Rèn luyện nhân cách đạo đức: Định hình lý tưởng phụng sự Tam bảo và xã hội; xây dựng tác phong kỷ luật, nếp sống lục hòa, kính trên nhường dưới, thói quen tri ân và báo ân; hình thành phong cách ứng xử lễ độ, hòa nhã trong gia đình thế tục và ngoài nhà trường.

Chương 4: Văn hóa của gia đình Phật tử tại Đà Nẵng: Liên kết xã hội, các giá trị và những vấn đề đặt ra

Chương 4 đúc kết các giá trị chức năng và những thách thức đặt ra cho tổ chức:

  • Liên kết xã hội và chia sẻ tinh thần: GĐPT vận hành như một không gian bù đắp tình cảm, hỗ trợ các thành viên giải tỏa khủng hoảng tâm lý; củng cố các mối quan hệ nội bộ gia đình thế tục thông qua quá trình Phật hóa gia đình; mở rộng mạng lưới tương trợ xã hội qua hoạt động thiện nguyện.
  • Hệ giá trị cốt lõi Đức - Trí - Thể: Thực hành giáo dục hướng tới sự phát triển toàn diện: rèn luyện thể chất dẻo dai (Thể), trau dồi tri thức Phật pháp và kỹ năng nhận thức (Trí), hoàn thiện phẩm cách đạo đức hướng thiện (Đức).
  • Những vấn đề đặt ra trong đời sống đương đại:
    • Tính nhập thế của Phật giáo: GĐPT thể hiện tính nhập thế qua các hoạt động từ thiện xã hội, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh.
    • Các yếu tố tác động: Sự cạnh tranh thời gian từ các hoạt động giải trí thương mại, áp lực thi cử và xu hướng thế tục hóa khiến đoàn sinh lớn tuổi khó duy trì sinh hoạt; tình trạng thiếu hụt đội ngũ Huynh trưởng kế thừa có năng lực.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin: Thực tiễn chuyển đổi số trong giáo dục GĐPT, từ việc tổ chức tu học trực tuyến qua Zoom trong thời kỳ dịch Covid-19 đến việc sử dụng mạng xã hội để truyền thông, kết nối đoàn sinh và quản lý dữ liệu tổ chức.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận tổ chức Gia đình Phật tử dưới góc độ Văn hóa học và khung lý thuyết Nhân học diễn giải, luận án đã làm rõ cấu trúc văn hóa tổ chức và bản chất các thực hành văn hóa giáo dục của một hội đoàn tôn giáo đặc thù tại Việt Nam.
  • Luận án bổ sung dữ liệu lý luận về cơ chế liên kết xã hội dựa trên niềm tin tôn giáo và văn hóa gia đình, làm sáng tỏ cách thức một thiết chế tôn giáo thích ứng và tái định hình các giá trị trong bối cảnh đô thị hóa và thế tục hóa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp bức tranh thực chứng, cập nhật về quy mô (57 đơn vị GĐPT), cơ cấu tổ chức và phương thức sinh hoạt của GĐPT tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012 - 2023.
  • Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo (Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ) xây dựng chính sách quản lý phù hợp, phát huy các nhân tố tích cực của GĐPT trong công tác giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho thanh thiếu niên ngoài nhà trường.
  • Đề xuất giải pháp thực tiễn cho Ban Hướng dẫn Phật tử GHPGVN TP Đà Nẵng trong việc củng cố nhân sự Huynh trưởng, chuẩn hóa chương trình tu học và ứng dụng công nghệ thông tin để duy trì sức hút của tổ chức đối với thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quá trình điền dã thực địa bị gián đoạn gần hai năm (2020 - 2021) do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, khiến tác giả phải bổ sung phương thức quan sát trực tuyến; phạm vi khảo sát chuyên sâu chỉ tập trung tại 4 quận, huyện trọng điểm (Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Hòa Vang) mà chưa thể bao quát toàn bộ 7 đơn vị hành chính có GĐPT sinh hoạt; thông tin định danh của các cá nhân cung cấp tin buộc phải viết tắt nhằm tuân thủ quy tắc bảo mật đạo đức nghiên cứu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra khả năng so sánh mô hình văn hóa GĐPT tại đô thị Đà Nẵng với các trung tâm Phật giáo khác ở miền Trung (như Thừa Thiên - Huế) hoặc miền Nam; đồng thời khuyến nghị nghiên cứu sâu hơn về tác động dài hạn của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đối với các thực hành giáo dục tôn giáo cho giới trẻ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo cho các ngành Văn hóa học, Tôn giáo học, Xã hội học tôn giáo và Nhân học; cung cấp minh họa cụ thể về việc vận dụng lý thuyết Nhân học diễn giải của Clifford Geertz trong nghiên cứu định tính tại thực địa đô thị.
  • Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu thực tiễn về công tác quản lý hội đoàn thanh thiếu niên tôn giáo, hỗ trợ xây dựng giải pháp phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các thiết chế xã hội trong việc giáo dục nhân cách thế hệ trẻ.
  • Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Cung cấp đánh giá khách quan về thực trạng sinh hoạt, những thuận lợi, rào cản và nhu cầu đổi mới chương trình đào luyện Huynh trưởng, đoàn sinh trong giai đoạn hội nhập.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án tiếp cận Gia đình Phật tử dưới góc độ Văn hóa học thay vì Tôn giáo học hay Lịch sử học?

Các nghiên cứu trước đây về GĐPT phần lớn tập trung vào lịch sử hình thành hoặc khía cạnh thể chế tôn giáo và chính trị học. Luận án chọn góc độ Văn hóa học để khám phá GĐPT như một mô hình thực hành văn hóa giáo dục cộng đồng, giải mã các giá trị, chuẩn mực và ý nghĩa của hành vi văn hóa mà các thành viên (người trong cuộc) cùng chia sẻ và bồi đắp trong đời sống thường nhật.

2. Đến năm 2023, mạng lưới GĐPT tại Đà Nẵng có quy mô như thế nào?

Tính đến năm 2023, toàn thành phố Đà Nẵng có 57 đơn vị GĐPT phân bố tại 6 quận và 1 huyện: quận Thanh Khê (12 đơn vị), quận Sơn Trà (11 đơn vị), quận Hải Châu (9 đơn vị), huyện Hòa Vang (9 đơn vị), quận Liên Chiểu (7 đơn vị), quận Cẩm Lệ (6 đơn vị) và quận Ngũ Hành Sơn (3 đơn vị). Trên địa bàn có 116 cơ sở thực hành Phật giáo đang hoạt động nhưng chỉ có 57 chùa có tổ chức GĐPT sinh hoạt.

3. Tác giả vận dụng lý thuyết Nhân học diễn giải của Clifford Geertz vào nghiên cứu như thế nào?

Tác giả áp dụng luận điểm "văn hóa là mạng lưới ý nghĩa" và phương pháp "mô tả sâu" (Thick Description) của Clifford Geertz để giải mã ý nghĩa biểu tượng của các nghi lễ (lễ Hiệp kỵ, lễ Chu niên), danh hiệu GĐPT, châm ngôn "Bi - Trí - Dũng" và tình Lam. Thay vì áp đặt góc nhìn khách quan cơ học, nghiên cứu đặt các thực hành giáo dục vào bối cảnh cụ thể và diễn giải chúng dựa trên quan điểm của chính người trong cuộc (Huynh trưởng, Đoàn sinh, phụ huynh).

4. Khó khăn lớn nhất trong quá trình điền dã thực địa của tác giả là gì và đã được khắc phục ra sao?

Khó khăn lớn nhất là giai đoạn giãn cách xã hội do dịch Covid-19 (2020 - 2021) làm đình trệ các sinh hoạt trực tiếp tại chùa; bên cạnh đó là sự dè dặt ban đầu của các đoàn sinh đối với người ngoài cuộc. Tác giả đã khắc phục bằng cách xin phép Sư trụ trì kết nối, tham gia các buổi sinh hoạt trực tuyến qua Zoom/Google Meet, theo dõi hoạt động qua fanpage Facebook và bố trí các đợt điền dã bổ sung liên tục từ cuối năm 2021 đến năm 2023.

5. Hệ giá trị giáo dục cốt lõi của GĐPT được luận án xác định gồm những thành tố nào?

Luận án xác định hệ giá trị cốt lõi của GĐPT Đà Nẵng vận hành theo mô hình hợp nhất Đức - Trí - Thể: Thể là việc rèn luyện sức khỏe, kỹ năng vận động và kỹ năng sinh tồn dã ngoại; Trí là việc học tập giáo lý Phật pháp, khai mở hiểu biết và năng lực tư duy; Đức là việc bồi dưỡng lý tưởng phụng sự, nếp sống kỷ luật, lòng tri ân và tinh thần từ bi hướng thiện.


Kết luận

Luận án "Văn hóa của gia đình Phật tử tại Đà Nẵng" của tác giả Hoàng Thị Mai Sa là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một hội đoàn Phật giáo đặc thù dưới góc nhìn Văn hóa học và Nhân học diễn giải. Dựa trên dữ liệu điền dã định tính giai đoạn 2012 - 2023 tại 57 đơn vị GĐPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả đã làm rõ cơ cấu vận hành, các mối quan hệ nội bộ và các thực hành văn hóa giáo dục theo hệ giá trị Đức - Trí - Thể. Công trình khẳng định vai trò tích cực của GĐPT trong việc củng cố liên kết xã hội, bồi đắp đời sống tinh thần và định hướng đạo đức cho thanh thiếu niên, đồng thời chỉ ra những thách thức trong việc đào tạo nhân sự kế cận trước tác động của xu thế thế tục hóa và chuyển đổi số.