Chương 1: KHÁI LƯỢ C V E TH IE N U Y E N TẬ P A N H V À M O T SỐ KH ÁI NIỆM CƠ BẢN Nhắc đến Thi én uyé n tập anh (A nh tú vư ờn thi ền) là nói tới mộ t bộ sác h ghi chép về các vị thiền sư Việt Nam (68 truyện tiểu sử) từ cuối thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ XIII, đây là tài liệu cỗ về đạo Phật hiện nay mà chúng ta có. Tác pham ra đời trong giai đoạn văn học trung đại mang những giá trị tàng trữ thơ ca của thời kỳ văn học Lý - Trần, hơn nữa ngoài chức năng văn học nghệ thuật của tác phẩm, Thiền uyễn tập anh cũng hàm chứa tính phức hợp chức năng trong đó nổi bật là chức năng tôn giáo, hơn hết, tác phẩm văn học Phật giáo này còn là nguồn tài liệu góp phần giải đáp cái riêng của văn hóa Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo Lý - Tran qua mối giao lưu tiếp biến giữa Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Hoa và tín ngưỡng - văn hóa dân gian bản địa. Thién uyén tập anh Trong nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng bản dịch của Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga là tài liệu cơ bản cho quá trình nghiên cứu. Thông qua bản dịch cùng với những nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ đề cập phần nào đó tới vẫn đề truyền bản, vấn dé tác giả của Thiền uyén tập anh, nhưng thực chất là chú trọng hướng vào một số khía cạnh văn hóa dân gian, những giá trị và đặc biệt nhấn mạnh đến chức năng ngoài văn học của tác phẩm.
Thiền uyễn tập anh trong dòng chảy văn học trung đại (văn học Lý - Trần) Trước hết, về tên gọi “Thiền uyén tập anh”, bài tựa sách Thiền uyén tập anh ở ban in trùng san năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) có nói: “Tai sao lai lấy nghĩa là Thiền uyén tập anh?” Đáp rằng: “do là lấy nghĩa lựa chọn những bậc anh tú trong vườn thiền ”. Tại sao lại như vậy, bởi vì môn dé của Thiên tông thì nhiều mà những bậc thấu hiểu lý huyền vi thì không có mấy. Quả thật như phượng giữa đàn gà, lan trong bụi cỏ. Nếu không phải là những người có thiền tư lỗi lạc, hiễu biết hơn người thì làm sao thấu suốt được những yếu chỉ huyền vì đủ làm kẻ lãnh tụ cho người học dao, làm khuôn mẫu cho người đời sau.
Đúng là trong vườn thi ền những người anh kỳ không phải nhiều, do đó phải chọn lấy những bậc danh cao đức trọng để tiếp cho những người học Phật noi theo. Cái nghĩa của “Tập anh” là như thế, do đó đư ợc dù ng để đặ t tê n ch o tậ p sá ch nà y an Ngay từ cá ch giả i thí ch về tên gọ i cũ ng ch o ch ún g ta th ấy đâ y là mộ t tác phẩm ghi chép về hành trạng, tiểu sử của các vị thiền sư tiêu biểu nhất trong vườn thiền thời Lý - Trần trở về trư ớc. Đặ c biệ t tên gọ i đó cũ ng ch o ph ép ch ún g ta kh an g định rằng đó là nh ữn g tiể u sử kh ôn g đơ n thu ần là đư a ra ng uồ n gốc , qu ê quá n, nơi trụ trì. mà đặc biệ t là thể hiệ n cái sự tin h thô ng, đạt đạo của mỗ i thi ền su, hơn hết , sự đạt đạo, tinh thông đó lại được trình bày dưới dạng “ngit luc”.
Ở vấn đề về tên gọi trong “Nghiên cứu Tihiền uyén tập anh” của Lê Mạnh Thát, ông đưa ra yếu tố ngữ lục chỉ là sự thêm vào dưới thời Lê là do quan niệm, bởi khi khảo cứu tác phẩm thì có nhiều truyện không theo một ngữ lục nào cả. Tuy nhiên, theo chúng tôi thì mặc dù gọi tác phẩm là 7hiển uyén tập anh ngữ lục hay Thiền uyén tập anh đăng lục.hay chỉ là Thiền uyén tập anh thì chúng ta không thé chối bỏ tính chất ngữ lục trong tác phẩm. Hơn nữa, đó cũng là một trong số những đặc điểm của văn học trung đại khi gọi tên tác phẩm cùng với tên thé loại của nó, dẫu Thién uyén tập anh có là một tác phẩm hỗn dung thể loại hay chỉ là ở một dạng thể loại nào đi chăng nữa thì tác phẩm vẫn mang những đặc điểm quan trọng của nền văn học trung đại Việt Nam, vẫn là một tác phẩm đại diện cho bộ phận văn học độc đáo trong cả tiến trình lịch sử văn học dân tộc - văn học Phật giáo, mà ở đó bao hàm cả những đặc điểm của văn học nghệ thuật và văn học chức năng mà ở đó thơ Thiền Lý - Trần là một trong số những minh chứng, nó vẫn mang những ý tứ thơ ca, vẫn thể hiện tâm tư, tình cảm. Tâm tư, tình cảm trong thơ Thiền là những điều thé hiện ở một cảnh giới khác, cảnh giới của các bậc thiền sư mà ở đó cảm quan về thiên nhiên và con ng ười - “(hiên nhiên trong thơ thiên không chỉ là cảnh tượng, cảnh vật mà tr ở thành cảnh giới,.phản chiếu nội tâm con người.và “con người ở đây khác với con người trong kinh điển Phật giáo, con người thiền là con người không bị tr ói buộc, kể cả bị trói buộc bang chính lời thuyết giáo của đức Như Lai.
Con người thiền nhắn mạnh ———— 1 ^ Ũ x > Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga. Thién ` 2 Uyên tập anh tự - Lời tựa trong Thiohền Uyén tập : a anh, 1993, tr. Lê Thị Thanh Tâm, “Nghĩ về phương điện thế tục trong sáng tạo và cảm nhận thơ Thién”,2011 8 khả năng thấy biết và giải thoát cảm qu an về nh ân si nh x dưA ới cá ˆ i nh ìn nh re à Ph re ật ` .` ` ^ s3 Chúng ta có thể kể tới mộ t số bài th ơ Th iề n tr on g T¡hi ên uy én tập an h vớ i nh ữn g lời thơ, ý tứ hay mà thể hiệ n rõ cái cả m qu an củ a Th iề n sư - Thi sĩ trư ớc thế giớ i, nh ư trong bài Kệ của Thiền sư Mãn Giác: “Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chỉ mai” Dịch: “Xuân ruồi, trăm hoa rụng Xuân tới, trăm hoa cười Trước mắt, việc di mãi Trên dau, già đến réi Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua, sân trước một cành mai” (Ngô Tat Tố dich) Qua bài thơ thiền trên, cảm quan nhân sinh của nhà sư càng thé hiện rõ hơn ở ý tứ thơ ca cũng như tư duy nghệ thuật của bài thơ, từ quy luật của tự nhiên, sinh, lão, bệnh, tử, cho đến biểu thị sức sống bất diệt của vạn vật cũng được thể hiện ở một cảnh giới thiền. Con người, không gian, thời gian trong sáng tác thơ Thiền cũng thể hiện sự cảm thụ và miêu tả nghệ thuật như một đặc điểm trong dòng chảy của văn học trung đại, qua hình ảnh con người cũng như thế giới quan có thể thấy được chủ điểm được đề cập nhiều trong thơ Thiền là: Sinh tử, hữu vô, hư thực, ở đó thiền sư như biết rõ được quy luật thịnh suy ở đời qua con mắt trí tuệ của thiền học trong bài thơ thiền nổi tiếng của Thiền sư Vạn Hạnh: “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Van mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô” — 374 1 A.
3> x2» +22 Lê Thị Thanh Tâm,”Con người giải thoázt và` con ngườNà a x. ` a 2 , z i mộng huyễn như là nguôn cảm hứng lớn trong thơ thiên Lý- Tran”, 2010 9 “Thâ n n h ư bó ng ch ớp có rồ i kh ôn g Cây cối xanh tươi thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông” (Ngô Tat Tổ dich) Thơ thiền tr on g Th ié n uy én tập an h là cơ sở để th ấy rằ ng đâ y là mộ t tác phẩm tàng trữ nh ữn g gi á trị th ơ ca củ a gia i đo ạn vă n họ c Lý - Trầ n. Việc ghi chép tiểu sử các nhà sư theo thế hệ đựa trên nguyên tắc chép sử, biên niên sử như một bộ hồ sơ về nhân vật cũng là đặc điểm phổ biến trong truyện _ kể trung đại Việt Nam mà 7)hiền uyén tập anh là một điển hình. Chang hạn khi chép về tiểu sử Đại sư Khuông Việt, sách chép: “Ông là người Cát Lị, huyện Thường Lạc, họ Ngô tên là Chân Lưu, là hậu dué của Ngô Thuận Dé.
Ông có dáng mạo khôi ngô tuần tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa. Thuở nhỏ, theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, cùng bạn đồng học đến chùa Khai Quốc thụ giới cụ túc với Thiền su Vân Phong, nhờ đó được đọc rộng kinh điển Phật giáo, hiểu sâu yếu chí Thiền học. Năm bốn mươi tuổi, danh tiếng vang vọng đến triều đình”. Truyện thiền sư Van Hạnh cũng dựa trên cách “lập hồ sơ” như vậy: “Thiền sư họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp.
Gia đình đã máy đời thờ Phật. Thuở nhỏ thông mình khác thường, học thông ba giáo, đọc kỹ trăm nhà, nhưng coi khinh công danh phú quý. Năm hai mốt tuổi xuất gia cùng Dinh Huệ theo học đạo với Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Những khi công việc rỗi rãi, sư chăm chỉ học hỏi không biết mệt.
Sau khi Thiền Ông tịch diệt, sư bèn chuyên tâm tu tập kinh “Tổng trì tam ma địa” lấy đó làm sự nghiệp. Bay giờ su nói ra điều gi, thiên hạ đều coi như sấm ngữ. Vua Lê Dai Hà nh đặc biệt tôn kính sư ”. Các lập hồ sơ nay phan lớn đều xuất hiện trong từng truyện tiểu sử thiền sư thường gồm ghi chép về chùa trụ tri, quê quán và khả năng họ c hỏi của từng người.
Thế nhưng, Thién uyén tập anh đã vượt ra ngoài lỗi chép tiểu sử như một hồ sơ bất biến mà trở thành tác phẩm tích hợp trong tất cả mọ i phương diện: thể loại, phong cách cũng như giá trị toàn tác phẩm.