đặt vấn đề nghiên cứu phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Chúng ta không thể không phân tích tình hình chính trị - xã hội, đặc biệt là tình hình Phật giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX và những thập niên đầu thế kỷ XX. Triều Nguyễn, bắt đầu là triều đại của vua Gia Long, cuối Triều Nguyễn là triều đại của vua Tự Đức, nhìn chung chính sách của Nhà Nguyễn ở hai thời kỳ này là hạn chế Phật giáo. Nhưng ở vào khoảng giữa của Triều Nguyễn, đó là Triều đại của vua Minh Mạng và Thiệu Trị, Phật giáo lại được quan tâm, phát triển.
Như trên đã nói Triều Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, năm thứ 2 của thế kỷ XIX, một thế kỷ với những biến cố lịch sử dân tộc sôi động, đây 8 z là thời kỳ Nho giáo độc tôn, Phật giáo có những bước thăng trầm. Nhà Nguyễn dành được quyền thống trị là dựa vào thế lực bên ngoài, đã khiến cho Nhà Nguyễn trở thành Triều đại thống trị hoàn toàn xa lạ, không gắn bó với dân tộc. Trên thực tế Nhà Nguyễn không có khả năng để ổn định đất nước. Đối với nhân dân, Triều đình luôn sợ sệt bị chống đối, bị cô lập, bị lật đổ.
Vì thế Nhà Nguyễn lúc này phải thực hiện ngay một chế độ chuyên chế chưa từng thấy. Vua quan Nhà Nguyễn trực tiếp nắm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Gia Long đặt ra lệ “bốn không”. Trên thực tế Nhà Nguyễn rất cần một học thuyết, một tín ngưỡng có lợi cho chế độ chuyên chế cực đoan, cho sự tập trung quyền lực về một mối.
Nho giáo với hệ thống “Tam cương”, Ngũ thường,” với tư tưởng coi vua là con trời, vua là đại diện cho quyền uy và lẽ phải đã đáp ứng được yêu cầu đó. Vì thế mà Nhà Nguyễn đã ra sức đề cao Nho giáo, tìm mọi cách đưa nho giáo lên vị trí độc tôn, đồng thời họ cũng ra sức đả kích, bài xích, cấm đoán các tôn giáo khác như Phật giáo, Lão giáo, Thiên chúa giáo… Triều đại Gia Long, Thiên chúa giáo có lúc bị cấm đoán, nhà thờ phải phá dỡ, giáo dân bị cầm tù. Còn Phật giáo là một tín ngưỡng truyền thống không có quan hệ gì với kẻ ngoại xâm, hơn nữa nó không có ý tranh giành quyền lực nên đã tránh được cách xử lí theo hình luật của Triều đình. Nhưng Phật giáo dưới con mắt của Triều đình là có ích hay không có ích, làm cách nào để điều khiển được nó, nên hạn chế nó hay để nó tự do phát triển….
Tất cả những lẽ đó luôn buộc Nhà Nguyễn phải suy nghĩ, bởi Phật giáo đã chiếm lĩnh được phần hồn của đại đa số nhân dân. Phật giáo rất có thể làm cho nhân dân xa rời với những nguyên tắc sống, cách thức cai trị của Triều đình. Nhìn một cách tổng thể thì chính sách của Gia Long nói chung là hạn chế sự phát triển của Phật giáo. Triều đình tăng cường chính sách 9 z quản lí số tăng ni, phật tử, bắt họ tham gia nhiều vào công việc xã hội.
Chủ trương của Nhà Nguyễn thời kỳ này là thu hẹp nhà chùa. Họ đặt ra những quy định ngặt nghèo nhằm giảm bớt việc xây chùa, tô tượng, đúc chuông, hạn chế tối đa số người dân thao đạo Phật. Vua Gia Long còn cấm đoán việc xây chùa mới, cấm tô tượng đúc chuông, làm đàn chay. Trong sách “ Đại nam Thực lục chính biên” có viết: “Gần đây có kẻ sùng đạo Phật xây chùa triền quá cao, lầu gác rất tráng lệ, đúc chuông, tô tượng rất đỗi đàng hoàng, làm đàn chay, mở hội hè, nuôi sư, cúng Phật phí tổn… không sách nào có thể chép hết, cầu phúc báo viển vông đến nỗi tiêu hao máu mỡ của dân.
vậy từ nay về sau chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, còn làm chùa mới, tô tượng, đúc chuông, tổ chức hội chùa hết thảy đều cấm. Sư sãi chân tu thì Lí trưởng sở tại phải nắm và khai rõ tính danh, quán chỉ, đem nộp ở quan chấn để biết rõ số lượng”[7,Tr. Song song với việc ban hành các chính sách hạn chế Phật giáo. Nhà Nguyễn còn tiến hành phê phán gay gắt giáo lí Phật giáo, nhằm đánh đổ tôn giáo này.
Cả vua, quan, đình thần và nhiều nho sĩ tất thảy đều tham gia vào việc này. Họ nhằm vào Thuyết "Nhân duyên báo ứng" của nhà Phật, mà cho rằng thuyết này là vô ích, là không thể thực hiện được. Chiếu của vua Gia Long về “định tiền lệ hương đảng cho dân xã Bắc hà” nói: Người thờ Phật cốt để cầu phúc báo, sách nhà Phật nói: Người có duyên được Phật độ, người không duyên Phật chẳng độ. Sách truyện nói: Thờ cha mẹ chẳng ra gì, ăn chay niệm Phật cũng vô ích, chung với Vua đến thế dẫu không cúng Phật cũng không sao.
Nhờ thế người có duyên được Phật độ, mà người không duyên Phật độ làm sao được. Chuộng Phật giáo như Tiêu Diễn mà cũng không giữ được thân, huống chi là bọn bất trung, bất hiếu không biết Quân Vương là Phật hiện thời, bỏ cả cha mẹ là Phật sinh thành mà đi cầu Phật vô hình ngoài muôn dặm để mong cầu phúc. Ngoài tư tưởng trên, Nhà Nguyễn còn cho Phật giáo 10 z là một tôn giáo có hại cho đất nước, làm hại cho lễ giáo phong kiến, ảnh hưởng đến việc thực hiện các giáo điều của nhà Nho. Quan điểm này kéo sang thời Tự Đức, Tự Đức cũng cấm làm chùa, tô tượng, đúc chuông, chùa quán có đổ nát thì mới được tu sửa, còn xây chùa mới, tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay… hết thảy đều bị cấm.
Không những thế, Tự Đức còn bắt buộc tách mọi hoạt động của nhà chùa ra khỏi mọi hoạt động, sinh hoạt của Triều đình. Luận điểm của Vua Quan thời Gia Long – Tự Đức thì không có gì mới mẻ, cũng không phải là sự phân tích cặn kẽ sâu xa, nhưng đó là tư tưởng của những kẻ nắm quyền lực trong xã hội, nên nó cũng có tác động không nhỏ. Luận điểm đó cùng với những chính sách hạn chế Phật giáo đã làm cho Phật giáo dưới Thời Gia Long- Tự Đức có phần suy giảm, mất vị trí trong xã hội, không có điều kiện phát triển. Tăng ni không được đối xử như trước.
Vì thế mà lúc này có người nhận định rằng Phật giáo Việt Nam bước vào giai đoạn suy đồi. Nhưng không hẳn như vậy, Triều đại Nhà Nguyễn Vua Quan trong Triều đình không phải ai cũng bài bác Phật. Vua Gia Long, Vua Tự Đức thì thường hoài nghi, xa lánh Phật giáo, còn Vua Minh Mạng, Vua Thiệu Trị thì lại sùng tín Phật giáo. Tại sao lại như vậy?Sở dĩ có điều đó là do: Thời Gia Long là lúc Triều đại mới được dựng nên, còn gặp nhiều lực lượng chống đối, nên họ cần phải đề cao ý thức Tôn quân của Nho giáo.
Đến thời Tự Đức là lúc Triều đại suy thoái, nên họ phải quay về độc tôn Nho giáo để củng cố địa vị và quyền lực. Giữa thời Gia Long và Tự Đức là Triều đại của Minh Mạng và Thiệu Trị. Lúc này xã hội tương đối ổn định, để mở mang văn hoá, để gần gũi trở lại nhân dân với Phật giáo. Minh Mạng và Thiệu Trị đã phải vượt qua những trở ngại.
Trước hết là những thành kiến tông tộc như cho 11 z Phật giáo là “dị đoan”, là “không hợp lẽ”, “cho xây chùa triền là tiêu hao máu mỡ của dân”, sau nữa là những băn khoăn về giáo lí nhà Phật như: giáo lí nhà Phật không nói tới “trung hiếu”, không đề cao uy quyền của Thiên tử. Để khắc phục được những trở ngại này là cả một thử thách lớn đối với Họ. Trong giai đoạn lịch sử dân tộc dưới Triều đại Minh Mạng và Thiệu Trị, chúng ta thấy có những thay đổi dần trong lời lẽ của họ. Nếu Minh Mạng đối với Phật giáo đôi lúc còn ngập ngừng, còn phải thanh minh về việc làm của mình, đến Thiệu Trị, ông đã xem việc chu cấp cho nhà chùa, tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay là những việc làm tất yếu.
Hơn thế nữa Thiệu Trị còn làm thơ ca ngợi cảnh chùa. Ngoài Vua ra, số Quan lại và Nho sĩ lúc này cũng tin tưởng vào Phật giáo ở những góc độ khác nhau. Có những Đại thần cũng tự xưng mình là Bồ tát, là người tu tại gia, Họ cũng chú ý tới việc xây dựng chùa triền, tạo bia, khắc kinh. Có người thì lấy cảnh chùa làm nơi thăm viếng để thoả lòng hoà nhập với thiên nhiên, chùa triền là nơi để tâm hồn thanh thoát.
Cũng có những người đồng cảm với giáo lí nhà Phật về cảnh ngộ con người, về sự giải thoát. Trong số những người có sự đồng cảm với Phật giáo. Họ đã thể hiện được suy tư của thời đại, tiêu biểu cho nhiều người và để lại những dấu ấn sâu đậm trong quan niệm của họ về nhân sinh, về tư duy của người đương thời. Trong Triều Vua- Quan và các Nho sĩ thời kì Minh Mạng, Thiệu Trị quan tâm đến Phật giáo như vậy, thì ngoài dân gian việc thay đổi Triều Đại đã không làm thay đổi tín ngưỡng, niềm tin của họ vào đạo Phật.
Có khi những quy định khắt khe của Triều Đình về việc xây chùa, tô tượng, đúc chuông, lập đàn chay… đối với dân chúng chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, trong phạm vi hẹp. Nhưng Sẵn lòng tin vào nơi cõi Phật, người dân coi việc đóng góp xây dựng chùa triền là một nghĩa vụ, là sự tự tâm, tự nguyện. Còn nhà chùa thì luôn ghi công của họ vào bia, 12 z chuông, phổ hệ và sắm hương hoa cầu khấn khi họ qua đời. Một quan hệ qua lại giữa niền tin và tín ngưỡng như thế nên tấm lòng từ bi, công đức của người dân vì thế mà ngày càng tăng thêm.
Chính vì những lẽ trên đây mà thời Minh Mạng, Thiệu Trị chùa triền phát triển thành một hệ thống đủ loại. Đặc biệt là Kinh đô Huế – nơi tập trung nhân lực, tài lực của nhà nước, chùa tháp được tu sửa, xây mới rất đồ sộ, tráng lệ. Lực lượng tăng ni đông đảo, mỗi ngày sư sãi tụng Chư kinh nhật tụng, vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà, Diệu pháp liên hoa… ba, bốn lần (sáng, trưa, chiều, tối). Tình hình trên cho thấy, Phật giáo Thời kì Minh Mạng - Thiệu Trị là một giai đoạn có những nét riêng về hệ thống chùa tháp, về tổ chức, về hình thức nghi lễ, về tâm lí tôn giáo.
Nguyên nhân của sự khác biệt, nét đặc thù đó là sự tác động của tình hình chính trị xã hội và chính sách của Triều đình.