PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sáng tạo nghệ thuật là đặc trưng của xã hội loài người. Nghệ thuật phản ánh trình độ phát triển của xã hội, là dấu ấn của nền văn minh. Việt Nam là đất nước có bề dày văn hiến; có một nền văn hóa với sự góp mặt của cộng đồng 54 dân tộc anh em; có vị trí địa lý thuận lợi cho sự giao lưu tiếp biến văn hóa; có sự mềm dẻo, linh hoạt và ham học hỏi là những nét nổi trội của dân tộc tính… Đây đều là những điều kiện để hình thành một nền nghệ thuật đậm đà bản sắc: phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức và độc đáo bởi những nét riêng biệt.
Cũng có thể dùng mệnh đề này để khái quát ngắn gọn về tính chất nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam. Như nhiều quốc gia khác, nghệ thuật sân khấu truyền thống – phương tiện phản ánh sinh động đời sống, tâm tư tình cảm, gởi gắm khát vọng của con người – vẫn là loại hình nghệ thuật được đại bộ phận công chúng yêu thích vì có khả năng thể hiện bộ mặt của một xã hội, và xa hơn là cả một thời đại. Các loại hình sân khấu truyền thống dân tộc – như: Tuồng (Hát bội), Chèo, Cải lương… – từ khi ra đời, trên bước đường định hình phát triển cho đến nay vẫn luôn là tấm gương khúc xạ hiện thực cuộc sống một cách trực diện, chân thực mà cũng đầy tinh tế, sáng tạo. Đặc biệt, các loại hình này còn thể hiện niềm tự hào mang tính chất vùng miền rõ nét: đất Bắc là quê Chèo, Tuồng rực rỡ ở miền Trung và Nam Bộ là xứ Cải lương.
Tất cả cùng làm nên một nền sân khấu đa dạng, đa sắc, đầy hấp lực. So về bề dày lịch sử hàng mấy trăm năm của Chèo, Tuồng hay các loại hình nghệ thuật dân tộc khác như Ca trù, Quan họ, Nhã nhạc…, Cải lương, chỉ mới ra đời vào đầu thế kỷ XX, vẫn còn quá “non trẻ” nhưng lại có tốc độ phát triển đáng kinh ngạc. Chỉ trong vòng chưa đầy hai thập niên, NTCL đã đi đến độ hoàn thiện về đặc điểm loại hình, xác định những chuẩn mực riêng cho mình trong nền sân khấu dân tộc: kịch bản, âm nhạc, phong cách biểu diễn, thủ pháp sân khấu… Không những thế, từ quê hương Nam Bộ, Cải lương đã lan tỏa mạnh mẽ khắp mọi miền đất nước, nhanh chóng bén rễ và đâm chồi nảy lộc với một sức sống mãnh liệt đến 2 không ngờ trên những vùng đất mà Tuồng, Chèo đã ngự trị hàng mấy thế kỷ. Có thể nói, SLCL thể hiện khá rõ nét tính chất “thống nhất trong đa dạng” nổi bật của văn hóa Việt Nam qua khả năng dung hợp cao nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, thể hiện được nhiều đề tài, thích ứng cao với văn hóa nhiều vùng miền… nhưng vẫn giữ được trọn vẹn tính chất riêng của nó.
Vì thế, dù: diễn tuồng tâm lý hiện đại hay lịch sử, hương xa, tuồng Tây, tuồng Tàu hay tuồng Ấn Độ, La Mã…; nghệ sĩ hát giọng Nam hay giọng Bắc; sân khấu thể hiện cảnh đấu súng hay đấu gươm, đề tài cách mạng hay chống tham nhũng… đều vẫn là chỉnh thể một tuồng Cải lương chứ không biến thành một loại hình nào khác. Mỗi loại tuồng, mỗi phong cách, mỗi vùng miền lại có những nét đặc sắc riêng góp phần tô điểm cho NTCL muôn màu muôn vẻ. Đấy chính là sức hấp dẫn của SKCL đồng thời giúp loại hình này ít đối diện với nguy cơ lạc hậu. Đặc biệt, tính chất mở và tự thân đổi mới luôn khiến SKCL tìm được cách thích ứng với xã hội và thị hiếu khán giả (dù tính chất này đang lu mờ trong thời điểm hiện nay).
Tìm hiểu về SKCL không chỉ là tìm hiểu về một loại hình sân khấu đầy hấp dẫn ở hoạt động chuyên môn lẫn đặc điểm nghệ thuật mà cũng là phần nào tìm hiểu về tâm hồn, đời sống người dân, đặc biệt là con người Nam Bộ khi mà một thời gian dài Cải lương đã hoàn toàn chiếm lĩnh tình cảm và có vị thế vững chắc trong đời sống tinh thần con người nơi đây. Bề dày lịch sử khá ngắn ngủi nhưng quá trình hình thành và phát triển của SKCL lại vô cùng đa dạng, phong phú với nhiều biến động, khúc quanh gắn liền cùng thời cuộc. Ngay chính sự ra đời của Cải lương cũng là từ nhu cầu cải cách trên nhiều lĩnh vực của giới trí thức Tây học dưới tác động của tình hình chính trị, hoàn cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, sau năm 1975, SKCL đã biến chuyển vô cùng mạnh mẽ dưới sự vận động về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và TP.
Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông quy về một mối, đất nước thống nhất về lãnh thổ và thể chế chính trị. Nghệ thuật biểu diễn nói chung và SKCL ở miền Nam nói riêng đứng trước thử thách không nhỏ khi chuyển hoạt động từ nền kinh tế thị trường TBCN sang nền kinh tế kế hoạch hóa XHCN. Với khả năng thích ứng cao, lại gắn bó chặt chẽ với 3 cách mạng từ những ngày đầu kháng chiến (nhiều soạn giả, “bầu” gánh hát, ký giả kịch trường… là cán bộ hoạt động nội thành), SKCL nhanh chóng phục hồi, hòa vào nhịp sống mới và trải qua giai đoạn phát triển “đỉnh cao mới” trong 10 năm sau ngày giải phóng. Tuy nhiên sau giai đoạn phát triển rực rỡ 1975 – 1985, SKCL lại sa sút đến không ngờ khi video Cải lương bùng nổ trong thập niên 90 thế kỷ XX.
Cuối cùng lâm vào khủng hoảng toàn diện trong thế kỷ XXI và phải “vật lộn” với đủ phương thức hoạt động, thể nghiệm nhiều hướng đi mới lạ nhằm duy trì nhịp sống giữa xã hội hiện đại… Thực tiễn phong phú và phức tạp đó là hấp lực không nhỏ cho những người thích tìm hiểu về SKCL, trong đó có bản thân học viên. Tình trạng khủng hoảng của SKCL ngày càng trầm trọng và hoàn toàn có nguy cơ bị mai một: chương trình Cải lương (nhất là diễn nguyên tuồng) ngày càng thưa vắng và giảm sút chất lượng nghiêm trọng; thành phần khán giả chủ yếu đã lớn tuổi, lớp khán giả trẻ kế thừa rất ít; giới trẻ ngày càng xa lạ với Cải lương cũng như ít cơ hội tiếp cận những vở diễn hay; những quan niệm: “Cải lương là sến, là quê mùa, lạc hậu…” không hiểu từ bao giờ đã ăn vào nếp nghĩ của nhiều bạn trẻ dù rằng họ chưa hề nghe qua hay xem vở Cải lương nào… Là một người yêu mến NTCL, đã thích thú những tuồng tích, những bài bản Cải lương từ rất nhỏ và đã học hỏi được nhiều điều từ nghệ thuật này, học viên mong muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu có thể giúp bản thân nhìn nhận tổng quát về quá trình vận động của SKCL thời gian qua, cũng như hiểu được thực trạng SKCL Cải lương hiện nay, từ đó có thể phân tích được nguyên nhân và hy vọng nhìn ra được hướng đi phù hợp cho sự phát triển của SKCL thời hiện đại. Có thể nói việc trở thành phóng viên của chuyên mục sân khấu là một may mắn trong nghề nghiệp của học viên khi được theo đuổi lĩnh vực mình yêu thích. Đề tài này trước tiên cũng phục vụ cho nghề nghiệp của bản thân học viên, vốn cần tìm hiểu sâu về lĩnh vực này.
Trong quá trình tác nghiệp, được tiếp xúc với nhiều người gắn bó lâu năm với SKCL, thấy và hiểu được phần nào những cái khó của người làm nghề hiện nay, học viên thực sự đồng cảm với những trăn trở về thực trạng Cải lương của những người vẫn nặng lòng cùng nghệ thuật này dù phải nỗ lực đi tìm 4 từng khán giả. Những tình cảm cá nhân với SKCL, với những người làm nghề cũng thôi thúc học viên chọn đề tài này cho luận văn của mình. Mục tiêu nghiên cứu - Có được cái nhìn tổng quan về diễn trình hoạt động và sự vận động của SKCLTP giai đoạn từ năm 1975 đến nay, từ đó rút ra được những vấn đề nổi bật của SKCL trong giai đoạn này (xuất hiện những nhân tố, những mô hình hoạt động nào mới; có những bước phát triển gì về nghệ thuật chuyên môn, công tác quản lý; những hiệu ứng xã hội đạt được…) - Chỉ ra được những yếu tố tác động đến hoạt động và sự vận động của sân SKCL; nắm được những chủ trương, đường lối của nhà nước, chính quyền TP.HCM đối với sự phát triển SKCL và những hiệu quả đạt được. - Đánh giá vai trò của SKCL trong giai đoạn này: đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân, phục vụ chính trị, phản ánh xã hội… - Nhìn nhận về sự khủng hoảng của SKCL ở nhiều khía cạnh: biểu hiện của sự khủng hoảng (hoạt động sàn diễn, tính chuyên nghiệp trong biểu diễn và tác phong người nghệ sĩ, chất lượng chương trình…), nguyên nhân (chủ quan lẫn khách quan), đề xuất hướng giải quyết… 3.
Tính cấp bách, cần thiết - Hiện nay, những người đã gắn bó và nắm rõ những chuyển biến của SKCL từ năm 1975 đến nay không còn nhiều và cũng đã lớn tuổi. Trong vài năm trở lại đây, một loạt những tên tuổi lớn đã ra đi (NSND Phùng Há, NSƯT Minh Phụng, Thanh Thanh Hoa, Tấn Tài, Kim Ngọc, soạn giả Quy Sắc, Ngọc Văn, Nhị Kiều, đạo diễn Minh Quân, Bạch Lan…) Chỉ vài năm nữa thôi nếu muốn nghiên cứu chuyên sâu về SKCL sẽ rất khó khăn trong việc thu thập tài liệu từ những người đã trực tiếp tham gia và hiểu sâu sắc về giai đoạn quan trọng này. - SKCL dần rơi vào khủng hoảng từ thập niên 90 thế kỷ XX. Đến nay, qua hơn 20 năm vẫn chưa thấy khởi sắc.
Việc nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá lại giai đoạn này (từ 1975 đến nay) tại thời điểm hiện nay, với nhiều nỗ lực phục hồi SKCL từ trung ương đến địa phương, là điều hoàn toàn cần thiết. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa khoa học: - Góp thêm một nghiên cứu về SKCL ở phương diện lịch sử. - Góp phần đưa ra những đánh giá về mặt lý thuyết vị trí SKCL trong đời sống văn hóa nước nhà, đặc biệt là trong giai đoạn mới từ 1975 đến nay. - Góp thêm những phân tích lý thuyết về sự tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, vấn đề toàn cầu hóa… đối với SKCL.
Ý nghĩa thực tiễn: - Đóng góp những giải pháp, biện pháp để giữ gìn và phát triển Cải lương với những người làm nghề, quản lý sân khấu và các cơ quan chức năng.