chương I nêu lên những cơ sở lý luận của việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, bao gồm quy định về quyền tác giả, tác phẩm điện ảnh và vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Chương II là phần cốt lõi phân tích các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, chỉ ra những quy định còn thiếu sót hiện nay và đưa ra quan điểm nhận định của tác giả. Ở chương III là đánh giá thực trạng vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, xác định nguyên nhân của thực trạng vi phạm, và kết thúc chương với một số kiến nghị của tác giả nhằm hoàn thiện hơn cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. 9 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH 1.
Quyền tác giả và vấn đề bảo hộ quyền tác giả 1. Khái niệm về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả Sở hữu là một phạm trù có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển loài người cũng như sự phát triển của xã hội. Bằng việc khẳng định một thứ gì đó là của người này hay người khác, tức là khẳng định sự độc quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với thứ họ sở hữu mà không ai có thể xâm phạm. Và cũng bằng việc khẳng định quyền sở hữu, con người có thêm động lực để làm ra nhiều tài sản, của cải vật chất hơn nữa.
Nếu như trước đây, tài sản mà con người quan tâm để xác lập quyền sở hữu chỉ là những thứ tồn tại hữu hình, cầm nắm được, bảo quản và cất giữ được. Thì trải qua thời gian, với ngày càng nhiều sự sáng tạo được hình thành và phát triển, con người quan tâm nhiều hơn đến các những tài sản vô hình, đó chính là trí tuệ và sự sáng tạo. Quyền sở hữu đối với những tài sản vô hình này được gọi là quyền sở hữu trí tuệ, gồm hai nhánh chính: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp. Nói đến quyền tác giả, sẽ có không ít lầm tưởng rằng quyền tác giả chỉ đề cập riêng đến quyền của tác giả như chính tên gọi của nó.
Tuy nhiên, nội hàm của quyền tác giả còn rộng hơn như vậy. Đó là một quyền hợp pháp được tạo ra bởi pháp luật công nhận cho các cá nhân, tập thể, tổ chức có độc quyền để khai thác, sử dụng các loại hình tác phẩm (trừ một số trường hợp ngoại lệ) mà cá nhân, tổ chức đó sáng tạo ra hoặc sở hữu và được nhận một khoản bù đắp cho những nỗ lực trí tuệ của họ. Mục đích của quyền tác giả là để thúc đẩy việc tạo ra các tác phẩm sáng tạo mới bằng cách cho tác giả, chủ sở hữu quyền kiểm soát và lợi nhuận từ việc khai thác, sử dụng các tác phẩm. Đây là định nghĩa về quyền tác giả được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận và sử dụng.
10 Ở Việt Nam, quyền tác giả cũng được giải thích theo cách hiểu như trên. Tuy nhiên, mặc dù quy định về quyền tác giả đã tồn tại từ Hiến pháp 1980 và Nghị định số 142/HĐBT ban hành ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, nhưng thời điểm này, chưa có một điều khoản quy định trực tiếp quyền tác giả là gì, mà chỉ có các quy định đi vào chi tiết như tác phẩm là gì, ai là tác giả, ai là chủ sở hữu, các quyền của tác giả, quyền của chủ sở hữu.[1] Mãi đến năm 2005, khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, thì quyền tác giả mới có một định nghĩa cụ thể trong luật. Tại Khoản 2, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định “quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quy định này có phần ngắn gọn, chưa làm rõ được bản chất của quyền tác giả mà chỉ mới bước đầu xác định chủ thể có quyền và đối tượng của quyền tác giả mà thôi.
Đó là quyền tác giả, vậy thì bảo hộ quyền tác giả nghĩa là như thế nào? Bảo hộ quyền tác giả chính là việc bảo vệ quyền tác giả của chủ thể nắm giữ quyền, thông qua đó, cũng tức là bảo vệ các tác phẩm đã được sáng tạo ra, chống lại các hành vi sử dụng trái phép tác phẩm, như: ăn trộm, sao chép, lạm dụng. bằng các công cụ pháp lý. Hay nói cách khác, bảo hộ quyền tác giả là việc đặt ra các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền tác giả, tạo ra hành lang chống lại các hành vi xâm phạm quyền tác giả và đặt ra chế tài cho các hành vi xâm phạm. Từ các quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự năm 1995, cho đến Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, và gần đây nhất là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 chính là các quy định mà pháp luật Việt Nam đặt ra để bảo hộ quyền tác giả.
Lịch sử hình thành, phát triển quyền tác giả Vào Thời kỳ Cổ đại và Trung Cổ, người ta chưa biết đến quyền cho một tác phẩm trí tuệ. Các quy định luật pháp thời bấy giờ chỉ được áp dụng cho những vật mang tác phẩm trí tuệ. Chẳng hạn như pháp luật không cho phép trộm cắp một 1 Điều 72 Hiến pháp năm 1980 Điều 2 Nghị định số 142/HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng 11 quyển sách nhưng lại cho phép chép lại nội dung từ quyển sách đó. Lúc này, để bảo vệ tác phẩm của mình, tác giả chỉ có cách là gắn một lời nguyền vào đó[2].
Đến khoảng năm 1440, khi kỹ thuật in được phát minh, đã mở ra một thời đại khác biệt hoàn toàn. Nếu như trước đây, việc ăn cắp, sao chép tác phẩm chỉ được thực hiện bằng tay nên tình trạng sao chép rất ít do sự hạn chế về sức lực cũng như công cụ thực hiện. Thì giờ đây, các bản sao chép của một tác phẩm có thể được sản xuất với số lượng lớn một cách dễ dàng hơn. Nhưng tác giả vẫn chưa xem đây là một vấn đề nghiêm trọng, thậm chí họ còn vui mừng vì tác phẩm của mình được phổ biến rộng rãi và nhà in hay nhà xuất bản còn trả một số tiền cho bản viết tay.
Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu tiên bị các nhà in khác in lại. Việc này làm cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên trở nên khó khăn. Tác giả cũng có thể không bằng lòng với các bản in lại vì những bản in lại này thường được sản xuất ít kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay thậm chí còn bị cố ý sửa đổi. Vì thế, để chống lại việc in lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định.
Đây là hình thức khởi thủy của sự bảo hộ quyền tác giả. Khi Thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho người sáng tạo như là một cá nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào. [3] Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như sở hữu cho các lao động trí óc và hiện tượng sở hữu phi vật chất.
Nước Anh là quốc gia đi tiên phong trong việc đưa ra quy định pháp luật về quyền tác giả với Đạo luật “Statue of Anne” có hiệu lực từ tháng 10/1710. Đây là Luật Bản quyền đầu tiên trên thế giới. 2 Ví dụ tác giả Eike von Repgow - tác giả của cuốn sách Sachsenspiegel ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị bệnh hủi. 3 Theo https://vi.org/wiki/Quyền_tác_giả.
12 Sau Anh, các quốc gia trên thế giới lần lượt ban hành các đạo luật về quyền tác giả. Tại Pháp, một Propriété littéraire et artistique (Sở hữu văn học và nghệ thuật) được đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và 1793. Tại Phổ, một bảo vệ tương tự cũng được đưa ra vào năm 1837. Cũng vào năm 1837, Hội đồng liên bang của Liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm, thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời.
Trong Liên minh Bắc Đức, việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào năm 1857 và được Đế chế Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó. [4] Cùng với việc các tác phẩm được lưu hành ở nước ngoài càng nhiều, các hiệp ước quốc tế cũng được ký kết để bảo hộ quyền tác giả: Công ước Berne, Hiệp định TRIPs… Tuy nhiên, các quy định này không hẳn là được ủng hộ tuyệt đối. Không ít các phong trào phản đối đã diễn ra để chống lại các ngăn cấm về việc sử dụng tác phẩm[5]. Vì những người sử dụng có nhu cầu tiếp cận với các tác phẩm và vốn đã quen với việc sử dụng tự do, trong khi đó tác giả thì cũng mong muốn phổ biến tác phẩm của mình đến công chúng càng nhiều càng tốt.
Những mâu thuẫn này là chưa bao giờ kết thúc. Do đó, mỗi quốc gia, với quy định của mình về quyền tác giả luôn phải cố gắng điều chỉnh sao cho hài hòa lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu và người sử dụng, làm sao để vừa bảo vệ được quyền của tác giả, chủ sở hữu, nhưng đồng thời cũng đảm bảo sự tiếp cận của công chúng đối với các tác phẩm sáng tạo. Sơ lược về quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam Ở Việt Nam, bắt đầu từ Hiến pháp 1980, quyền tác giả mới được công nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân. Vào năm 1986, Nghị định số 142/HĐBT ban hành ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng có quy định tám 4 Theo https://vi.org/wiki/Quyền_tác_giả.
Vũ Mạnh Chu, “Bài 1: Giới thiệu chung”, Kiến thức cơ bản, phổ thông về quyền tác giả, quyền liên quan (được đăng trên website www. 5 Theo https://vi.org/wiki/Quyền_tác_giả.