CHƯƠNG 1 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm chung về quyền tác giả 1. Tác phẩm Tác phẩm được định nghĩa trong Luật Sở hữu Trí tuệ (ban hành năm 2005 và sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tại khoản 7, điều 4 Luật Sở hữu Trí tuệ định nghĩa như sau: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”.
Theo Công ước Berne (Công ước về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật), khoản 1 điều 2 của Công ước giải thích thuật ngữ “Các tác phẩm văn học và nghệ thuật” bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, được biểu hiện theo phương thức hay dưới bất kỳ hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình điện ảnh, các tác phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, bản khắc, thạch bản; các tác phẩm nhiếp ảnh trong đó có các tác phẩm tương đồng được thể hiện bằng một quy trình tương tự quy trình nhiếp ảnh; các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, bản phác họa và các tác phẩm thể hiện không gian ba chiều liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học” [6. 8 Ở đây, các dấu hiệu đặc trưng của tác phẩm thể hiện như sau: Thứ nhất, đó phải là sản phẩm sáng tạo. Vấn đề thế nào là sản phẩm sáng tạo hiện trong các văn bản pháp luật hiện hành của chúng ta chưa có định nghĩa cụ thể. Trên thế giới cũng chưa có sự thống nhất khái niệm giữa các quốc gia.
Trên thực tế, chất lượng nội dung của tác phẩm là vấn đề quan trọng đối với chính tác phẩm và với tác giả của nó. Chỉ những tác phẩm có nội dung phong phú và có chất lượng cao (bài thơ, cuốn tiểu thuyết, bộ phim hay, bức tranh ấn tượng.) thì mới được nhiều người đón nhận và bản thân tác phẩm đó sẽ có sức sống mãi với thời gian. Để tác phẩm đạt được điều đó, tác giả của nó phải là người có tài năng trong lao động sáng tạo. Tuy nhiên, việc thừa nhận tác phẩm hoàn toàn không phụ thuộc vào chất lượng của tác phẩm.
Tác phẩm đã được tạo ra dù có nội dung với chất lượng như thế nào đều được thừa nhận, miễn là tác phẩm đó có mang tính sáng tạo. Quy định của pháp luật về tính sáng tạo của tác phẩm ở các nước có sự khác nhau về mức độ nhưng nhìn chung đều là sự yêu cầu về tính mới của tác phẩm. Luật của Australia coi tính mới của tác phẩm là sự sáng tạo, không đòi hỏi việc thể hiện tác phẩm phải dưới dạng mới nhưng tác phẩm đó nhất thiết không phải là bản sao chép của một tác phẩm khác. Luật của Hoa Kì yêu cầu về tính mới của tác phẩm phải là kết quả của tối thiểu một cố gắng sáng tạo của tác giả.
Luật của Cộng hòa liên bang Đức lại quy định rằng một tác phẩm chỉ được thừa nhận khi nó tạo thành một trí tuệ mang dấu ấn cá nhân. Các văn bản pháp luật của nước ta hiện nay chưa xác định cụ thể như thế nào thì một tác phẩm được coi là có tính sáng tạo. Tuy nhiên, theo cách xác định về tác giả tại Điều 736 Bộ luật dân sự năm 2005 thì tác phẩm sẽ được coi là có tính sáng tạo khi tác phẩm đó có tính mới về một hoặc nhiều phương diện như: Nội dung tác phẩm, hình thức diễn đạt tác phẩm, ngôn ngữ thể hiện trong tác phẩm. 9 Thứ hai, sự sáng tạo đó phải được thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể.
Chúng ta đều biết rằng, không ai có thể cảm nhận, nắm bắt được vấn đề nào đó khi đang còn nằm trong suy nghĩ của người khác. Vì vậy, những ý tưởng, thậm chí những kết quả lao động sáng tạo của một người đã có nội dung cụ thể nhưng họ chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì vẫn không thể có cơ sở để thừa nhận và theo đó, để bảo hộ. Như vậy, có thể hiểu tác phẩm trước hết không phải là sản phẩm của quá trình lao động bình thường như người công nhân tạo ra sản phẩm công nghiệp như máy móc, đồ dùng… hay người nông dân tạo ra sản phẩm nông nghiệp như lúa, ngô, khoai, sắn… mà đó là sản phẩm trong đó có chứa đựng tư tưởng, nghệ thuật hay nói cách khác, đó là sản phẩm đơn chiếc được kết tinh bởi sự sáng tạo trong quá trình lao động. Tuy nhiên, tư tưởng nghệ thuật đó nếu không được tác giả thể hiện dưới dạng vật chất nào đó thì mãi mãi chỉ là suy nghĩ nằm trong đầu của tác giả mà không ai biết được.
Phân tích về đặc điểm của tác phẩm, tác giả Trần Văn Nam chỉ ra những đặc điểm của tác phẩm như sau: “Trước tiên, tác phẩm phải là sự sáng tạo trực tiếp của con người, bởi vậy tác phẩm phải mang dấu ấn cá nhân của con người/từng con người cụ thể. Chủ thể của hoạt động sáng tạo là các tác giả (con người cụ thể) thông qua quá trình hoạt động của trí não, kinh nghiệm của bản thân và các yếu tố hỗ trợ khác tạo ra thành quả chính là tác phẩm. Thứ hai, tác phẩm phải là sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo chứ không chỉ đơn thuần là các dạng sản phẩm chỉ được hình thành bằng kết quả lao động của con người mà không chứa đựng một hàm lượng chất xám nhất định. Thứ ba, tác phẩm là sản phẩm trí tuệ nguyên gốc mang đặc trưng riêng biệt của người sáng tạo.
10 Thứ tư, tác phẩm mang đặc tính vô hình, nên việc chiếm hữu tác phẩm (kể cả chiếm hữu bản gốc của tác phẩm) cũng không thể là một trong các yếu tố xác nhận quyền sở hữu của người chiếm hữu tác phẩm. Thứ năm, tác phẩm được thể hiện thông qua một dạng vật chất nhất định, hay nói cách khác tác phẩm phải được định hình trong một “phương tiện thể hiện” cụ thể. Bộ luật Dân sự cũng như Luật Sở hữu trí tuệ đều ghi nhận quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được tạo nên dưới một hình thức vật chất nhất định. ”Quyền tác giả không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký” [13.
Phân loại tác phẩm Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ tại Điều 14. Căn cứ vào các quy định này, kết hợp với quy định tại Công ước Berne về tác phẩm và thông qua một số quy định trong Nghị định của Chính phủ số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 (Nghị định 100) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan để xác định khái niệm tác phẩm. Theo quy định tại các văn bản pháp luật đó thì các loại hình tác phẩm được bảo hộ bao gồm: - Tác phẩm văn học, sách giáo khoa, giáo trình, khoa học và tác phẩm khác: Các tác phẩm được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự, bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, bút kí, kí sự, tuỳ bút, hồi kí, thơ, trường ca, kịch bản, bản nhạc, công trình nghiên cứu văn hoá, văn học, nghệ thuật, khoa học và các bài viết khác. Tác phẩm được bảo hộ còn bao gồm các tác phẩm được thể hiện bằng các kí tự khác thay cho chữ viết như chữ nổi cho người khiếm thị, kí hiệu tốc kí và các kí hiệu tương tự khác mà đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau.
11 - Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác: Đây là các tác phẩm thể hiện bằng ngôn ngữ nói. Tác phẩm phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định như băng, đĩa, video. Ngoài ra còn các tác phẩm khác như tài liệu giảng dạy, huấn luyện. - Tác phẩm sân khấu: Là tác phẩm được thể hiện thông qua hình thức trình diễn nghệ thuật trên sân khấu, bao gồm kịch nói, nhạc vũ kịch, ca kịch, kịch câm, xiếc, múa, múa rối và loại hình tác phẩm sân khấu khác.
- Tác phẩm điện ảnh: Ở đây bao gồm cả những tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự. Đó là những tác phẩm được tạo nên bởi một loạt hình ảnh sắp xếp liên tiếp để hình thành hiệu ứng chuyển động. Các hình ảnh có thể kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh. Chúng được thể hiện trên chất liệu nhất định; có thể truyền đến công chúng bởi các thiết bị công nghệ, kĩ thuật.
Các tác phẩm điện ảnh ở đây bao gồm các phim truyện, phim tài liệu, khoa học, hoạt hình hoặc các tác phẩm hình thành theo loại hình tương tự như phim truyền hình, video. - Tác phẩm nhiếp ảnh: Là tác phẩm được thể hiện bằng hình ảnh phản ánh thế giới khách quan được hình thành trên vật liệu bắt sáng; trên phương tiện hình ảnh được tạo ra hoặc cũng có thể tác phẩm được tạo ra qua bất cứ phương pháp kĩ thuật nào khác (như phương pháp hoá học, kĩ thuật số hay phương pháp khác). - Tác phẩm báo chí: Là tác phẩm được phản ánh dưới những thể loại báo chí như ghi nhanh, phóng sự, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận, kí báo chí. Tác phẩm báo chí được truyền đến công chúng qua sóng điện từ; các trang báo, tạp chí xuất bản dưới dạng in ấn.
Tác phẩm báo chí được thể hiện qua loại hình, báo in, báo nói, báo điện tử hoặc bằng hình thức chuyển tải thông tin khác với các ngôn ngữ khác nhau. 12 - Tác phẩm âm nhạc: Là các tác phẩm được thể hiện dưới dạng nốt nhạc trong bản nhạc hoặc trong các kí tự âm nhạc khác. Có thể là có lời hoặc không có lời. Tác phẩm âm nhạc không phụ thuộc vào việc nó có được trình diễn hay không.
Tuy nhiên, để đưa tác phẩm đến công chúng thì thường phải thông qua giọng hát, nhạc cụ. - Tác phẩm kiến trúc: Là các bản vẽ thiết kế các công trình xây dựng như nhà cửa, cầu đường.