Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Nghệ thuật kiến trúc giữ vai trò định hình không gian sống, tạo dựng cơ sở hạ tầng vật chất và phản ánh diện mạo văn hóa - văn minh đô thị. Mỗi công trình kiến trúc trước khi thành hình đều trải qua quá trình sáng tạo bản vẽ thiết kế trên giấy hoặc phần mềm đồ họa. Dưới góc độ pháp lý, tác phẩm kiến trúc được xếp vào nhóm tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ quyền tác giả (QTG). Tuy nhiên, so với các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ hay Nhật Bản – nơi luật bản quyền được tách biệt thành một ngành luật độc lập với sở hữu công nghiệp – hệ thống pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam còn non trẻ, nằm chung trong Luật Sở hữu trí tuệ và bộc lộ nhiều điểm bất cập.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy tình trạng sao chép, đạo nhái các bản vẽ phối cảnh, mặt bằng và chi tiết kiến trúc diễn ra phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh Internet phát triển nhanh chóng. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức bản quyền còn hạn chế của người dân và doanh nghiệp, cùng với lỗ hổng lập pháp: pháp luật hiện hành mới chủ yếu bảo hộ tác phẩm kiến trúc dưới dạng bản vẽ thiết kế hai chiều (2D), chưa bao quát đầy đủ công trình xây dựng thực tế ba chiều (3D). Nhằm làm rõ cơ sở lý luận và giải quyết các vướng mắc thực tiễn tại doanh nghiệp tư vấn xây dựng, đề tài "Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc. Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Nam Cường" được tác giả Đỗ Hà Mĩ (Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương Mại, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Tình) xác lập nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo hộ QTG đối với tác phẩm kiến trúc, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại doanh nghiệp cụ thể, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi. Khóa luận triển khai 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày những vấn đề lý luận chung về QTG, QTG đối với tác phẩm kiến trúc và pháp luật bảo hộ QTG đối với loại hình tác phẩm này.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng cơ chế bảo hộ QTG đối với tác phẩm kiến trúc, chỉ ra những mặt hạn chế, vướng mắc.
- Tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng và phân tích thực trạng thực hiện bảo hộ quyền tác giả tại Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Xây dựng Nam Cường (NCDC).
- Đề xuất phương hướng và các nhóm kiến nghị cụ thể đối với cơ quan nhà nước và các chủ thể liên quan nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hộ QTG đối với tác phẩm kiến trúc.
Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo hộ QTG đối với tác phẩm kiến trúc, các hiệp định và điều ước quốc tế có liên quan, cùng các tình huống, vụ việc thực tế về xâm phạm và bảo hộ quyền tác giả tại doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung tập trung vào hệ thống lý luận và thực trạng quy phạm pháp luật (chủ thể, điều kiện bảo hộ, nội dung quyền, hành vi xâm phạm, biện pháp bảo vệ và chuyển giao quyền). Về không gian, đề tài khảo cứu pháp luật Việt Nam, có sự đối chiếu với pháp luật Hoa Kỳ, Anh, các điều ước quốc tế, và khảo sát thực tiễn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Xây dựng Nam Cường (có trụ sở tại Phường Kênh Dương, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận pháp lý về quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ, kế thừa các học thuyết pháp lý kinh điển trên thế giới:
- Lý thuyết về quyền sở hữu của nhà xuất bản (năm 1556 tại London, Anh): Thừa nhận quyền sở hữu của đơn vị in ấn, xuất bản khi đã trả tiền cho tác giả.
- Luận thuyết về lao động của John Locke và Đạo luật Anne 1779 (Anh): Xác lập quyền tự nhiên của con người đối với những sản phẩm do mình sáng tạo ra và công nhận quyền độc quyền nhân bản của tác giả.
- Thuyết nhất nguyên về quyền tác giả: Coi quyền tác giả là một quyền thống nhất không thể tách rời giữa quyền nhân thân và quyền tài sản, xuất phát trực tiếp từ hoạt động sáng tạo cá nhân của tác giả chứ không phải do sự ban phát của nhà nước.
Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:
- Các văn bản quốc tế: Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật; Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS, Việt Nam gia nhập ngày 11/01/2007).
- Luật nước ngoài: Luật QTG đối với tác phẩm kiến trúc năm 1990 của Hoa Kỳ (Điều 102(a)), Luật Liên bang Hoa Kỳ năm 1795; Luật Bản quyền Nhật Bản; Luật Bảo vệ quyền sở hữu tác phẩm khoa học và nghệ thuật năm 1987 của Phổ (Đức).
- Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 (Điều 30, 32, 60), 2013; Nghị định 142/HĐBT ngày 14/11/1986; Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (LSHTT); Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2009 (LSĐBSLSHTT); Bộ luật Dân sự 2015; Bộ luật Hình sự; Luật Xuất bản 2012; Luật Thương mại; Nghị định 100/2006/NĐ-CP; Nghị định 105/2006/NĐ-CP; Nghị định 85/2011/NĐ-CP; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm 3 phương pháp chính:
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập dữ liệu từ các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, tài liệu hội thảo quốc gia và hồ sơ hoạt động thực tế tại doanh nghiệp khảo sát.
- Phương pháp tổng hợp – so sánh: Tổng hợp thông tin lý luận, so sánh quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (Công ước Berne, luật pháp Hoa Kỳ, Anh), so sánh giữa các giai đoạn lập pháp và đối chiếu giữa quy định trên văn bản với thực tiễn thực hiện.
- Phương pháp liệt kê: Trình bày hệ thống hóa các nhóm quyền, điều kiện bảo hộ, hành vi vi phạm và các giải pháp pháp lý.
| Căn cứ pháp lý / Học thuyết |
Nội dung điều chỉnh chính |
Ý nghĩa ứng dụng trong khóa luận |
| Công ước Berne (khoản 2 Điều 5) |
Nguyên tắc bảo hộ tự động không phụ thuộc thủ tục đăng ký |
Cơ sở xác định thời điểm phát sinh QTG của bản vẽ kiến trúc |
| Luật Sở hữu trí tuệ 2005 & sửa đổi 2009 |
Điều 4, 6, 14, 19, 20, 27, 28, 45-48 |
Khung pháp lý cốt lõi về điều kiện bảo hộ, nội dung quyền và xử lý xâm phạm |
| Nghị định 100/2006/NĐ-CP (Điều 17) |
Quy định chi tiết các dạng thể hiện của tác phẩm kiến trúc |
Căn cứ định danh bản vẽ thiết kế, sa bàn, mô hình kiến trúc |
| Nghị định 105/2006/NĐ-CP (Điều 5, 6, 7) |
Căn cứ xác định hành vi và yếu tố xâm phạm QTG |
Công cụ pháp lý nhận diện hành vi sao chép, cắt xóa thông tin quản lý quyền |
| Thuyết nhất nguyên |
Quyền tác giả gồm quyền nhân thân và quyền tài sản thống nhất |
Cơ sở phân định quyền lợi giữa kiến trúc sư và công ty tư vấn |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tác giả và pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận nền tảng về quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc:
- Khái niệm và đặc điểm: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm trí tuệ dưới dạng vật chất nhất định (Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP). Theo Điều 17 Nghị định 100/2006/NĐ-CP, tác phẩm kiến trúc bao gồm bản vẽ thiết kế về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh thể hiện ý tưởng sáng tạo về công trình, tổ hợp kiến trúc, cảnh quan đô thị, khu dân cư hoặc mô hình, sa bàn. Khóa luận chỉ rõ QTG đối với tác phẩm kiến trúc là quyền của tổ chức, cá nhân đối với bản vẽ, mô hình do mình trực tiếp sáng tạo hoặc đầu tư, nhận chuyển giao hợp pháp.
- Bốn nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả:
- Nguyên tắc bảo hộ tự động: Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới dạng vật chất nhất định, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký hay nộp lưu chiểu.
- Nguyên tắc bảo đảm tính không trùng lặp của tác phẩm: Bảo hộ hình thức thể hiện nguyên gốc mang dấu ấn cá nhân của tác giả và bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm.
- Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do sáng tạo của cá nhân: Được hiến định tại các bản Hiến pháp (như Điều 60 Hiến pháp 1992), bảo hộ các sáng tạo không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng, tự định đoạt của các chủ thể: Đảm bảo quyền tự do chuyển giao, định đoạt và yêu cầu cưỡng chế khôi phục khi bị xâm phạm.
- Điều kiện bảo hộ, nội dung quyền và thời hạn: Tác phẩm phải có tính sáng tạo (không sao chép) và được định hình dưới hình thức vật chất nhất định. Nội dung quyền gồm quyền nhân thân (đặt tên, đứng tên, bảo vệ tính toàn vẹn được bảo hộ vô thời hạn; quyền công bố tác phẩm) và quyền tài sản (làm tác phẩm phái sinh, sao chép, phân phối, truyền đạt). Thời hạn bảo hộ quyền tài sản là suốt đời tác giả cộng thêm 50 năm sau khi tác giả chết; đối với tác phẩm khuyết danh là 75 năm kể từ ngày công bố đầu tiên (khoản 8 Điều 1 LSĐBSLSHTT).
- Chuyển giao và xử lý xâm phạm: Phân định giữa chuyển nhượng QTG (chấm dứt quyền sở hữu tài sản) và chuyển quyền sử dụng QTG (cho phép khai thác có thời hạn theo Điều 47, 48 LSHTT). Trình bày 4 căn cứ xác định hành vi xâm phạm theo Nghị định 105/2006/NĐ-CP và các biện pháp bảo vệ (dân sự, hành chính, hình sự, kiểm soát biên giới).
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hộ tác phẩm kiến trúc và thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Nam Cường
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật và khảo sát thực tế áp dụng tại doanh nghiệp:
- Bối cảnh và nhân tố tác động: Sự phát triển kinh tế thị trường, các cam kết quốc tế cùng nhân tố văn hóa - xã hội tác động trực tiếp đến việc hoàn thiện khung pháp lý. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam còn thiếu vắng các quy định chi tiết dành riêng cho lĩnh vực kiến trúc; toàn bộ văn bản dưới luật mới chỉ có 2 điều khoản tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP trực tiếp điều chỉnh tác phẩm kiến trúc.
- Thực trạng quy định về chủ thể và bất cập: Pháp luật công nhận cả pháp nhân (tổ chức giao nhiệm vụ hoặc đầu tư tài chính) là chủ sở hữu quyền tác giả. Điều này tạo điều kiện cho hoạt động thương mại hóa nhưng làm phát sinh lỗ hổng pháp lý khi doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc sáp nhập.
- Khảo sát thực tiễn tại Công ty Nam Cường (NCDC):
- Doanh nghiệp hoạt động trong 3 mảng chính: tư vấn thiết kế (mũi nhọn), xây nhà trọn gói, thi công hoàn thiện và sản xuất nội thất.
- Mối quan hệ tác giả - chủ sở hữu: Kiến trúc sư ký hợp đồng lao động với công ty giữ các quyền nhân thân (đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn). Công ty Nam Cường là chủ sở hữu giữ toàn bộ quyền tài sản và trả thù lao/lương cho kiến trúc sư.
- Các hình thức xâm phạm ghi nhận tại doanh nghiệp: (1) Đạo nhái, sao chép toàn bộ bản vẽ phối cảnh đăng tải trên website để đăng lại trên trang của doanh nghiệp đối thủ; (2) Cắt, xóa logo thương hiệu và chữ ký điện tử của kiến trúc sư trên bản vẽ; (3) Sao chép nguyên xi các chi tiết đặc thù như cổng nhà, đường cong mái vòm, sân vườn đưa vào các công trình dân dụng thực tế mà không xin phép.
- Biện pháp tự bảo vệ và hạn chế: Công ty áp dụng chèn logo, chữ ký điện tử, mã vạch nhận diện cho công trình lớn. Khi phát hiện xâm phạm, công ty chủ yếu sử dụng biện pháp thương lượng, hòa giải do tâm lý e ngại kiện tụng kéo dài ảnh hưởng đến quan hệ kinh doanh.
- Tồn tại chủ quan: Cả ban lãnh đạo và nhân viên chưa chủ động đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả do e ngại thủ tục hành chính phức tạp, tốn kém.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hộ QTG đối với tác phẩm kiến trúc
Chương 3 xây dựng hệ thống định hướng và kiến nghị lập pháp xuất phát từ Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị và yêu cầu hội nhập:
- Định hướng: Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; loại bỏ sự tản mát của các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự, Luật Xuất bản; hoàn thiện chế định hợp đồng và chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế.
- Kiến nghị sửa đổi khái niệm pháp lý: Phân biệt rõ giữa hai khái niệm "tác phẩm kiến trúc" và "công trình xây dựng". Cần mở rộng phạm vi bảo hộ sang công trình xây dựng thực tế nếu công trình đó đáp ứng đầy đủ tính nghệ thuật và sáng tạo tinh thần của tác giả.
- Tiêu chí loại trừ và lượng hóa: Loại trừ bảo hộ quyền tác giả đối với các công trình xây dựng hàng loạt theo mẫu phổ thông, không vượt quá trình độ trung bình hoặc thuần túy mang tính kỹ thuật - công năng. Bổ sung quy chuẩn đánh giá tỷ lệ phần trăm yếu tố kỹ thuật và công cụ phần mềm trong quá trình thiết kế.
- Quy định cơ chế thỏa thuận đa phương: Bổ sung khung pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa 3 tác nhân: Tác giả (Kiến trúc sư) - Nhà đầu tư - Cơ quan quản lý nhà nước khi có các can thiệp thực tế vào công trình (sửa chữa, cải tạo, chỉnh trang hoặc phá dỡ).
- Nâng cao hiệu quả thực thi: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sở hữu trí tuệ cho 3 nhóm đối tượng: tác giả, chủ sở hữu và người sử dụng; nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý và cơ quan tài phán; đơn giản hóa thủ tục hành chính về đăng ký quyền tác giả.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu và thực tiễn pháp lý:
- Dẫn chứng các số liệu kinh tế chứng minh đóng góp của ngành công nghiệp bản quyền: Tại Thái Lan (điều tra năm 2006), ngành công nghiệp dựa trên bản quyền đóng góp 4,48% GDP và chiếm 2,85% tổng việc làm; tại Hàn Quốc (năm 2009), doanh thu ngành bản quyền đạt 105,4 ngàn tỷ Won, chiếm 9,89% GDP; tại Hoa Kỳ (năm 2005), giá trị sở hữu trí tuệ chiếm 47% tổng trị giá của các công ty.
- Chỉ rõ thực trạng pháp lý: Toàn bộ hệ thống văn bản hướng dẫn của Việt Nam mới chỉ có 2 điều khoản tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định trực tiếp về tác phẩm kiến trúc, và tại Việt Nam chưa từng có tiền lệ một vụ tranh chấp bản quyền kiến trúc nào được đưa ra xét xử tại Tòa án do thiếu cơ sở pháp lý quy định về công trình xây dựng thực tế.
- Khái quát thực trạng áp dụng Bộ luật Hình sự: Mặc dù luật quy định mức phạt tù lên đến 3 năm đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả ở "quy mô thương mại", văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn chưa có hướng dẫn định lượng cụ thể thế nào là quy mô thương mại.
Về mặt đóng góp học thuật, đề tài khắc phục những hạn chế của các công trình đi trước:
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Thoa (ĐHQGHN) mới chỉ phân tích lý luận chung, chưa giải quyết được vướng mắc về cơ chế bảo hộ công trình thực tế.
- Sách chuyên khảo của Nguyễn Vân Nam ("Quyền tác giả, đường hội nhập không trải hoa hồng") đã đối chiếu pháp luật quốc tế nhưng còn bỏ ngỏ giải pháp thực tiễn.
- Đề tài của Đỗ Hà Mĩ đã gắn kết việc phân tích lý luận với khảo sát cụ thể quy trình xử lý quyền tác giả tại Công ty Nam Cường, từ đó đề xuất giải pháp tách bạch giữa tác phẩm kiến trúc nghệ thuật và công trình xây dựng thông thường theo quan điểm chuyên môn của Hội Kiến trúc sư Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số giới hạn nghiên cứu được nêu trong văn bản:
- Về phạm vi khảo sát thực tế: Dữ liệu thực tiễn chủ yếu được thu thập tại một doanh nghiệp cụ thể là Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Xây dựng Nam Cường tại Hải Phòng, chưa mở rộng khảo sát định lượng trên diện rộng tại nhiều loại hình doanh nghiệp thiết kế kiến trúc có quy mô và khu vực địa lý khác nhau.
- Về nguồn tư liệu xét xử: Khóa luận chưa thể phân tích các bản án thực tế về tranh chấp bản quyền tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam do thực tiễn tố tụng trong nước chưa ghi nhận tiền lệ xét xử chính thức đối với loại hình này.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:
- Tiếp tục theo dõi và nghiên cứu tác động của việc sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ đối với các quy chuẩn định lượng về yếu tố kỹ thuật trong thiết kế kiến trúc.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các cơ chế bảo vệ quyền tác giả kiến trúc trong môi trường số và trên không gian mạng Internet đối với nhiều nhóm chủ thể kinh doanh khác nhau.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và giảng viên ngành Luật, Luật Kinh tế, Sở hữu trí tuệ: Tham khảo hệ thống lý luận về quyền tác giả, lịch sử hình thành các học thuyết bản quyền và bảng phân tích so sánh pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế (Công ước Berne, luật Hoa Kỳ, Anh).
- Kiến trúc sư và các nhà thiết kế: Nắm bắt rõ ranh giới giữa quyền nhân thân và quyền tài sản, các căn cứ nhận diện hành vi xâm phạm bản vẽ và biện pháp gắn thông tin quản lý quyền.
- Doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng: Tham khảo mô hình phân định quyền sở hữu tác phẩm giữa người sử dụng lao động và người lao động, cũng như cách thức ứng phó, hòa giải khi phát hiện hành vi đạo nhái thiết kế.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, tác phẩm kiến trúc được bảo hộ dưới những hình thức thể hiện nào?
Theo Điều 17 Nghị định số 100/2006/NĐ-CP, tác phẩm kiến trúc được bảo hộ bao gồm: (1) Các bản vẽ thiết kế về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình, tổ hợp công trình, tổ chức không gian, cảnh quan đô thị, khu chức năng đô thị, khu dân cư nông thôn; (2) Mô hình, sa bàn về ngôi nhà, công trình xây dựng hoặc quy hoạch không gian.
2. Tại Công ty Tư vấn Thiết kế Xây dựng Nam Cường, quyền nhân thân và quyền tài sản đối với bản vẽ thiết kế được phân định như thế nào?
Căn cứ hợp đồng lao động và quy định pháp luật, kiến trúc sư là người trực tiếp sáng tạo nên nắm giữ quyền nhân thân (đặt tên, đứng tên, bảo vệ tính toàn vẹn của bản vẽ). Công ty Nam Cường là tổ chức đầu tư tài chính và giao nhiệm vụ nên là chủ sở hữu quyền tác giả, nắm giữ toàn bộ quyền tài sản và trả lương/thù lao cho kiến trúc sư.
3. Vì sao tại Việt Nam chưa từng có tranh chấp về bản quyền tác phẩm kiến trúc được đưa ra Tòa án xét xử?
Theo phân tích trong khóa luận và nhận định của Hội Kiến trúc sư Việt Nam, nguyên nhân không phải vì không có hành vi sao chép công trình trên thực tế, mà do pháp luật hiện hành thiếu cơ sở pháp lý để xử lý: luật mới chỉ bảo hộ bản vẽ thiết kế trong không gian hai chiều (2D), chưa quy định bảo hộ đối với công trình xây dựng thực tế (3D) được tạo dựng từ bản vẽ.
4. Khóa luận đề xuất tiêu chí nào để phân biệt "tác phẩm kiến trúc" được bảo hộ với "công trình xây dựng" thông thường?
Khóa luận kiến nghị không bảo hộ quyền tác giả đối với các công trình xây dựng hàng loạt theo mẫu thiết kế thông dụng, công trình không vượt quá trình độ trung bình của giới thiết kế hoặc công trình thuần túy phục vụ công năng kỹ thuật. Tác phẩm kiến trúc được bảo hộ phải chứa đựng dấu ấn cá nhân, sáng tạo tinh thần và có giá trị nghệ thuật cao; đồng thời cần quy định tỷ lệ phần trăm ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật, phần mềm để xem xét khả năng bảo hộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Hà Mĩ đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc dựa trên nền tảng pháp luật quốc tế và Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng thực hiện tại Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Xây dựng Nam Cường, đề tài đã chỉ rõ những vướng mắc điển hình trong việc kiểm soát xâm phạm bản quyền trên không gian mạng và hạn chế của khung pháp lý đối với công trình xây dựng thực tế. Các kiến nghị sửa đổi khái niệm tác phẩm kiến trúc, xác lập tiêu chí nghệ thuật và cơ chế thỏa thuận đa bên mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho tiến trình hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.