CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC 1. Tổng quan về vấn đề Quyền tác giả 1. Khái niệm và đặc điểm Quyền tác giả Hiến pháp Việt Nam 2013, có quy định “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”1. “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” 2 và “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”3.
Quyền tác giả được hiểu theo nghĩa hẹp là tác giả, chủ sở hữu, người được sử dụng tác phẩm, các chủ thể có quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của pháp luật. Hiểu theo nghĩa rộng, Quyền tác giả được hiểu là một chế định pháp luật tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm hại. Như vậy, hiểu theo cách đơn giản nhất thì quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu Quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm chống lại việc sao chép bất hợp pháp4. Quyền tác giả đã khuyến khích nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhà khoa học sáng tạo, nói như vậy không có nghĩa là phải một nhà văn, đạo diễn nổi tiếng mới có quyền tác giả.
Quyền tác giả xuất hiện không phụ thuộc vào nội dung hay chất lượng của tác phẩm, Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hay bất kỳ thủ tục đăng ký nào (trừ một vài ngoài lệ). Thí dụ: Bài thi của 1 Điều 40, Hiếp pháp 2013 2 Khoản 2, Điều 62, Hiến pháp 2013 3 Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005, Sửa đổi bổ dung 2009 4 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam, tr. 123doc 5 sinh viên cũng được bảo hộ quyền tác giả, cho dù kết quả thi có như thế nào đi chăng nữa. Ngoài những đặc điểm chung giống như quyền SHTT như: - Đối tượng của quyền tác giả là thành quả của lao động sáng tạo, là sản phẩm của hoạt động trí tuệ của con người.
- Đối tượng của quyền tác giả là tài sản vô hình phi vật chất chỉ có thể được thể hiện và nhận biết thông qua một hình thức vật chất hữu hình nhất định. Thì quyền tác giả còn có hai đặc điểm riêng: - Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Không ai bảo hộ một câu nói, hay một động tác đơn giản thể hiện trong sinh hoạt hằng ngày. Cùng một nội dung như nhau có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức sáng tạo khác nhau, và mỗi hình thức thể hiện khác nhau đó đều có thể được bảo hộ quyền tác giả.
Nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ, ví dụ câu nói đơn giản “anh yêu em”, “tôi đang ăn cơm” sẽ không được bảo hộ quyền tác giả. Quyền tác giả chỉ tập trung bảo vệ hình thức thể hiện, không bảo hộ nội dung tác phẩm. Vì thế, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định5, thậm chí, tác phẩm được hưởng sự bảo hộ quyền tác giả bất chấp chất lượng hay giá trị của tác phẩm, ví dụ: bức tranh của bé mẫu giáo vẽ cũng được bảo hộ quyền tác giả đầy đủ. không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”6.
Việc đăng ký quyền tác giả không tạo nên giá trị pháp lý xác lập quyền nhưng có giá trị chứng cứ trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan, nghĩa là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã đăng ký được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh tác phẩm đã đăng ký đó là thuộc về mình. - Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Sự sao chép, bắt chước ở đây chỉ giới hạn về mặt hình thức của tác phẩm, chứ không đề cập đến sự sao chép, bắt chước về ý tưởng hay nội dung của tác phẩm. Bởi vì, theo đặc điểm quyền đã nêu, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo chứ không bảo hộ nội dung hay ý tưởng sáng tạo, nên việc tác giả 5 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam,tr.
6 Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009 123doc 6 này ngẫu nhiên có cùng ý tưởng, sao chép, phát triển ý tưởng của tác giả khác là hành vi được phép. Từ đó, có thể khẳng định nếu tác giả có những lao động trí óc, lao động sáng tạo nhất định của riêng mình để hình thành nên tác phẩm nguyên gốc về mặt hình thức, thì tác phẩm đó vẫn được bảo hộ quyền tác giả. “Tác phẩm gốc được hiểu là bản vật thể hóa tác phẩm do chính tay tác giả làm ra hoặc các bản được tác giả cho phép và trực tiếp giám sát làm ra, cụ thể trong thể loại tác phẩm nghệ thuật tạo hình, tác phẩm gốc rất dễ bị nhầm lẫn, được hiểu nó chính là tác phẩm của nghệ thuật tạo hình. Các tòa nhà công trình kiến trúc, xây dựng là những bản vật thể hóa của tác phẩm kiến trúc, xây dựng.
Khi chúng được tạo bởi những người được chính tác giả ủy quyền giám sát việc xây dựng, thì cũng được coi là tác phẩm gốc và được hưởng sự bảo hộ đặc biệt dành cho tác phẩm gốc”7. Chủ thể, nội dung, đối tượng của quyền tác giả 1. Chủ thể Khoản 1 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả”. Như vậy, có hai loại chủ thể tham gia vào QHPLDS về quyền tác giả là: (i) Tác giả Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học8.
Điểm mấu chốt trong việc xác định một người có phải là tác giả của một tác phẩm hay không, là ở chỗ người đó có trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hay không. Một người chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi mà người đó trực tiếp sáng tạo. Do đó, vì không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nên những người làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả. Vấn đề trực tiếp sáng tạo trong khái niệm tác giả và khái niện nguyên gốc có liên quan đến nhau.
Khi tác giả sáng tạo một tác phẩm thì đương nhiên tác phẩm được sáng tạo đó mang tính nguyên gốc, trừ khi tác giả sao chép từ một tác phẩm khác. Cho rằng việc tác giả phải trực tiếp sáng tạo không có nghĩa là tác giả không có 7 Nguyễn Vân Nam (2016), Quyền tác giả: Đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, tr. 8 Khoản 2 Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 9 năm 2006 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật dân sự luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; 123doc 7 quyền kế thừa sáng tạo của người khác. Pháp luật Việt Nam cũng công nhận người dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể từ những tác phẩm khác cũng được coi là tác giả.
Sáng tạo hay nguyên gốc trong khái niệm về quyền tác giả không là phải mới như trong quyền sở hữu công nghiệp. Như vậy khi thấy hai tác phẩm giống nhau đừng vội xác định ngay đó là có việc sao chép hay không, biết đâu lại là ngẫu nhiên. Bên cạnh khái niệm tác giả chúng ta còn có đồng tác giả. Đó là những cùng trực tiếp sáng tạo ra một tác phẩm được công nhận là các đồng tác giả của tác phẩm đó.
Dựa trên tính chất phần sáng tạo của các đồng tác giả vào tác phẩm chung, đồng tác giả được phân thành hai loại: - Thứ nhất: Các đồng tác giả cùng sáng tạo ra một tác phẩm nhưng phần sáng tạo của mỗi người không thể tách ra thành từng phần riêng biệt để sử dụng độc lập. Trường hợp này tương ứng với khái niệm sở hữu chung hợp nhất đối với quyền sở hữu thông thường. Khi quyết định bất cứ vấn đề gì liên quan đến tác phẩm cần phải có sự đồng thuận của tất cả các đồng tác giả. - Thứ hai: Các đồng tác giả cùng sáng tạo ra một tác phẩm nhưng phần sáng tạo của mỗi người có thể tách ra thành từng phần riêng biệt để sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác.
Trường hợp này tương ứng với khái niệm sở hữu chung theo phần đối với quyền sở hữu thông thường. Khi quyết định các vấn đề liên quan đến tác phẩm, ví dụ chuyển nhượng hay chuyển giao quyền tác giả, nếu không đạt được sự đồng thuận của các đồng tác giả đồng thời là đồng chủ sở hữu khác thì đồng tác giả vẫn có toàn quyền quyết định đối với phần tác phẩm do mình sáng tạo ra. Mỗi người có đầy đủ các quyền tài sản, quyền nhân thân của mình đối với phần riêng biệt đó. (ii) Chủ sở hữu quyền tác giả Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản9 đối với tác phẩm như sao chép, phân phối, nhập khẩu tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh.
Hay nói cách khác, chủ sở hữu là người độc quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm10. 9 Điều 36 Luật SHTT 2005 10 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.