Chương 1: Một số van dé lý luận cơ bản vẻ QTG, QLQ trong lĩnh vực truyền hình Chương 2: Pháp luật vẻ QTG, QLQ có yêu tổ nước ngoài trong lĩnh. ‘vue truyền hình ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Thực trang vi phạm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ‘bao hộ QTG, QLQ có yếu tổ nước ngoài trong lĩnh vực truyền hình ỡ Việt Nam. MỘT SỐ VAN DE LY LUẬN CƠ BẢN VE QUYEN TAC GIA, QUYEN LIEN QUAN CÓ YEU TÓ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH 'VỰC TRUYEN HiNH 1.1 Khai niệm quyền tac giả, quyền liên quan trong lĩnh vực truyền hình Truyền hình là một hình thức truyén thông đại chúng, truyền hình ảnh.
‘va âm thanh qua sóng vô tuyển điện. Với những ưu thé của minh, truyền hình góp phan giúp phát triển hệ thống truyền thông đại chúng, việc truyền tãi nội dung cuộc sống được phong phú hơn về mặt nội dung cũng như cải thiện hình ảnh truyền đạt tới công chúng, Có thé phân biết các loại hình phát sóng truyền hình dưới đây: "Truyền hình Analog là nguyên bản đâu tiên của công nghệ truyén hình, truyền hình Analog còn được biết đến đưới cái tên là truyền hình tương tự bởi ‘in hiệu được phát sóng tử Đài truyền hình, đến các máy thu hình có hình ảnh và âm thanh tương tự như tín hiệu gốc Truyền hình kỹ thuật số mặt đất (Digital) là là mét trong những loại hình phát sóng của truyền hình mã các tin hiệu truyền hình tương tự được số hóa trước khi truyền di. Các máy thu hình muốn bắt được loại hình phat song nay, phải nhờ đến bô giải mã do Bai Truyén hình cho phép vả cung cấp "Truyền hình cáp (hữu tuyển ~ CÁTƯ- viết tắt tiếng Anh là Community Antenna Television) là một trong những loại hình phát sóng của truyén hình, với các tin hiệu âm thanh vả hình ảnh được truyền dẫn qua hệ thống cáp quang và cáp đồng trục. Vé mat lý thuyết, thì loại hình phát sóng này không ‘bj ảnh hưởng béi các tác nhân như thời tiết hay méi trường âm thanh nhiễu.
đông, nhờ vậy, có thé dap ứng nhu cau phục vụ tốt hơn cho công chung ‘Truyén hình vệ tinh DTH (Direct to Home), là loại hình phát song của truyền hình ma khi chuối tín hiệu số được phát lên vệ tinh vả vệ tinh phát trở lại mặt dat, dau thu sẽ sử dụng Antena Parabol dé thu tin hiệu va dau thu tin hiệu vệ tinh sẽ thực hiện giải mã chuyển hóa thành hình ảnh vả âm thanh* aps: eye dina malin hw diene han bt cc enh put song yen aie 9 * Hệ thống Phát thanh Truyén hình Việt Nam có cơ cầu như sau’ - Truyén hình trung wong Bai Truyền hình Việt Nam là cơ quan thuộc Chin phủ, - Ở địa phương. có 63 dai phát thanh truyền hình tinh, thành trực thuộc. trung ương, - Thuộc Bộ, Ngành có: Đài truyền hình kỹ thuật so VIC; Kênh phat thanh có hình ~ VOV; Kênh truyền hình thông tên 28, Kênh truyền hình An mình TV; Kênh truyén hình Quốc hồi, Kênh truyền hình Quân đội, Các chuyên mục thanh niên, công thương, nhân đạo Dai Truyền hình Việt Nam hiện nay gồm có năm trung tâm khu vực gồm: Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Can Tho, thành phố Hồ Chi Minh vả các cơ quan thường trú ở nước ngoài (Lào, Campuchia, Hoa Ky, Nhất Bản, Bắc. Ireland, Liên hiệp Vương quốc Anh, Singaporee, Trung Quốc, Công hòa liên bang Nga).
Dịch vụ truyền hình trả tiểu gầm hai mang truyền hình cáp (VTVcab, SCTV) và một mạng truyền hinh số vệ tinh DTH (VSTV). thời lương phat sóng là 205 giờ/ngày (các kênh VTVI,2345,60: 24 givingay, VTV7. 19 giờfngày)” * Với hệ thống các dai truyén hình và nội dung phong phú, ngày cảng được chú trọng, truyền hình mang những điểm đặc trưng như sau: - Tính thời sự của truyén hình rắt cao. Mac di báo chi đều có tính thời sự nói chung nhưng truyén hình nói tiêng với những wu điểm của mảnh là một phương tiện truyền thông có khả năng thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiên khác.
Để cung cấp tin tức mới nhất đến người xem, và những ưu điểm về hệ thông kỹ thuật hiện đại, truyền hình có khả năng phát song liên tục 24/24h. các 10 Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhân thông tin và hình anh bing con đường thị giác cũng như phát thanh, người nghe chỉ tiếp nhân thông tin bằng con đường thính giác, truyền hình truyền tai tới người xem cả hình ảnh ‘va âm thanh cùng một lúc. Chúng ta nhân thức thể giới bằng nhiễu giác quan, tuy nhiên trong 5 giác quan của con người, không giác quan nảo mang lại lượng thông tin rộng lớn, da dang và day sắc thái như thị giác. Truyền hình, ngoải việc cung cấp thông tin qua thị giác lại còn bd sung thông tin cho người xem qua thính giác, do vậy trở thành mét phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cây cao, có khã năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện” - Truyễn hình có tinh rông khấp, đến được đông đảo quản chúng và phổ biển rông rối qua các phương tiện théng tin 'Việc các dai truyền hình ngày cảng phát triển phạm vi cung cấp dich vụ.
của mình, công với sự gia nhập thi trường của những đơn vị truyền hình tư nhân, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc, từ những người xem ở khu vực thanh phổ cho đến những đối tương ving sâu, ving xa. Không những thể, với những tính năng của minh, việc một sự kiên xây ra ở một nơi nhưng lại được hang tỉ người biết đến là điều mà chúng ta có thể tim tha trong lĩnh vực truyền hình. - Truyền hình có khả năng tác động mạnh mé va tính thuyết phục cao ‘Voi việc người xem có thé thu được thông tin cả qua hình ảnh và âm. thanh, truyền hình dem lại đô tin cây, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác đồng mạnh m vào nhận thức của con người.
Việc truyền hình có khả năng truyền ti một cách chân thực hình ảnh, nên công chúng được théa mn nhu câu "trăm nghe không bằng mắt thay” của người xem vì vây nâng cao khả năng thuyết phục và đối với những chương trình truyén hình đi kém với lời bình của bình luận viên sẽ có tác động manh mé lên người xem, va có th in đắt được quan điểm của dư luận. "Trần Bio Khi C003), tv chương ồn npn ne NB Văn hóc Thông th, Hi Nội,2003,.112 ir mquyên tác giã trong link vực try "Trong suốt chiêu dai lich sử của nên văn minh nhân loại, để đánh giá sự giàu có, nhân loại đã đi từ việc đánh gia dựa trên số lương tai sản vẻ vật chất mà con người chiếm hữu được tới viếc đánh giá dựa trên tai sản trí thức, quyền SHTT nói chung, QTG, QLQ nói riêng đã trỡ thành một trong các loại tải sẵn chủ yếu của tải sẵn tr thức Con người tư duy, sáng tạo để tạo ra các tải sản trí tuệ. Điều 2 (viii) của công tước Stockholm quy định quyền sỡ hữu trí tuệ bao gồm "các quyển sở hữu đối với sẵn phi cña hoạt đông trí tué và tính thần nine tác phẩm văn học, nghề thuật, tác phẩm khoa học, sáng chế. kiểu đáng công nghiệp, thi! bổ trí mạch tích hop bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mai, bí mật kinh doanh, chi dẫn địa ij và giống cập trông”.
Tài sin hữu hình được coi là một trong. những loại tai sản thể hiền dưới dang vat chất, vì lẽ đó, những tài sẵn này có nguy cơ bị xêm phạm. Do vây những tải sản trí tuệ nay cần phải được bảo về để dim bảo sự phát triển của xã hội. Quyển si hữu trí tuệ cũng như các quyền khác của con người đều được ‘bao về bằng hệ thống pháp luật, trong đó hệ thống pháp luật tién hành bảo về quyển tác giả quyền sở hữu trí tuệ thông qua các các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự.
Nhà nước bảo hộ quyén sở hữu tri tuệ của tác giã gồm các đổi tượng sau: Tác phẩm văn học, nghệ thuật vả tác phẩm khoa học, đối tượng liên quan đến quyền tác giả như: cuộc biểu dil „ bản ghi âm, ghỉ hình, chương trình phat sóng tín hiệu vệ tỉnh mang chương trình được mã hoá. ‘Theo một cách chung nhất, Tổ chức SHTTthé giới (WIPO) định nghĩa quyền. tác giả như sau: "Quyển tác giả là một tat ngit phap lý chỉ quyền của người sóng tác đỗi với các tác phẩm vin học và nghệ thuật của họ"Š “Quyén tác gid hay tác quyên (copyright) hoặc bản quyền là độc quyền của một tác gid cho tác phẩm của người này. Quyền tác gid được đìng để bão về các sảng tao tính thần có tỉnh chất văn hóa (cũng còn được got là tác " Copyright mô Related Rigi 2007) phẩm) không bị vi phạm bản quyền, vi du như các bài viết về khoa hoc hay văn học, sáng tác nhạc, ght âm tranh vẽ.
hình cimp, phim và các chương, trình tr én thanh: Quyền này bão vệ các quyền lợi cả rỉ và lợi ich Rinh tẾ của tác giả trong mỗi liên quan với tác phâm này '®' Các đôi tượng của quyền. tác giả thông thường chỉ được công nhận khi các tác phẩm đó phải là sản. phẩm trí óc của tác giả mà không đơn thuần lé sự sao chép từ nguồn đã biết Được ghi nhân trong Tuyên ngôn chung về nhãn quyển của Liên hiệp quốc, trên thé giới QTG đã được hình thành từ lâu, bắt nguôn từ phán quyết của Toa án nước Anh về độc quyền in ấn cũa Công ty Stationer. Cụ thể, vào thế lẻ 15, Johannes Gutenberg đã phát minh ra kỹ thuật in, tử đó việc xuất ban 4 mang lại rất nhiễu lợi ích kinh tế.
Xuất phát từ nhu cầu bảo hộ lợi ích kinh tế đó, những người lam nghề xuất ban đã có đề xuất cân thiết để bão hộ quyền. lợi riêng biệt của ngành nay. Vi vay, 6 thời điễm đó mong muốn có chế độ quyền lợi của tác giả nhiều hơn la chế độ quyển lợi của người làm nghề xuất ‘ban. Do vậy, “thot ky đầu tiên, OTG chỉ liên quan đến các tác phẩm in ẩn va độc quyên của tác giả chi giới hạn ở quyền xuất ban và bán những dn phẩm we” Đến giữa thé ky XVI, với sư phát triển của phong tréo phục hưng, các quyên tự do của con người dan dan trở nên quan trọng, vì thé “đặc quyền tác người sing tạo ra tác phẩm.