đặt vấn đề nhà nước cần có chính sách quản lý hữu hiệu, linh hoạt và hiệu quả để có thể thu hút các nguồn lực của xã hội, bên cạnh nguồn đầu tư từ nhà nước để nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa – nghệ thuật của Việt Nam [7, tr. Cũng trong năm 2021, nhà phê bình Phan Cẩm Thượng có bài “Thị trường văn hóa, nghệ thuật” tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc. Bài viết đã thể hiện nhiều quan điểm phản biện tích cực, thực tế về thị trường văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam trong những năm qua. Nhà phê bình cho rằng nhiều bộ phim, các đoàn kịch không có khán giả, ngay cả khi biểu diễn miễn phí, khiến chúng không vào được thị trường.
Theo tác giả, một trong những nguyên nhân đó là vì Việt Nam chưa hình thành một thị trường văn hóa – nghệ thuật đúng nghĩa. Nên các tổ chức cung cấp sản phẩm văn hóa cho công chúng thiếu động lực để phát triển. Từ quan điểm nhìn nhận này, tác giả bài viết cho rằng cần hình thành thiết chế lao động nghệ thuật chuyên nghiệp, thúc đẩy văn hóa doanh nghiệp như là một hoạt động bắt buộc đối với các công ty kinh doanh; đưa ngành quản trị kinh doanh nghệ thuật vào chương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 trình của một vài trường đại học. Xây dựng luật kinh doanh nghệ thuật và bảo vệ bản quyền cho từng ngành nghệ thuật cụ thể [7, tr.
Tóm lại, với những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về khán giả nghệ thuật mà NCS tiếp cận được, có thể rút ra một số vấn đề chung như sau: Thứ nhất, các nhà khoa học đều thừa nhận mối quan hệ biện chứng giữa khả năng về sự phát triển của sân khấu và khán giả. Sân khấu vì khán giả mà tồn tại và phát triển; và ngược lại, khán giả cũng nhờ sân khấu mà ngày càng được hoàn thiện bản thân hơn, đời sống tinh thần của khán giả ngày càng phong phú hơn. Tuy nhiên, từ sau ngày đất nước cải cách kinh tế theo hướng thị trường, khán giả sân khấu truyền thống ngày càng suy giảm. Thứ hai, nghiên cứu khán giả của nghệ thuật nói chung, sân khấu nói riêng cần được xem là hoạt động không thể tách rời trong quá trình vận hành, phát triển của hệ thống nhà hát, rạp hát trong môi trường kinh tế thị trường.
Song hành với nghiên cứu khán giả thì đào tạo, phát triển khán giả, truyền thông quảng bá là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của nghệ thuật sân khấu. Thứ ba, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh việc đáp ứng nhu cầu của khán giả là điều kiện để sân khấu tồn tại. Tuy nhiên, nhu cầu của khán giả luôn biến động và gắn với sự cạnh tranh giữa sân khấu truyền thống và các loại hình nghệ thuật đương đại. Trong mối tương quan đó, sân khấu truyền thống cần cải cách, tăng cường đầu tư các nguồn lực trên cơ sở khoa học đáng tin cậy để vừa đáp ứng được nhu cầu của công chúng, vừa không đánh mất những giá trị cốt lõi của nghệ thuật sân khấu.
Từ những tạm kết trên, liên đới đến luận án, NCS rút ra một số nhận định sau: - Sân khấu Cải lương nói chung, Nhà hát CL THT nói riêng muốn tiếp tục tồn tại, phát triển, không còn cách nào khác là phải tìm được những giải pháp phù hợp để giữ chân khán giả hiện có, phát triển khán giả tương lai. - Các đơn vị tổ chức biểu diễn Cải lương ở Tp.HCM, trọng tâm là Nhà hát CL THT cần nghiên cứu khán giả để nhận diện nhu cầu của họ. Đồng thời, quá trình sáng tạo, cải tiến Cải lương theo nhu cầu khán giả phải đảm bảo giữ được những chức năng nói chung của sân khấu, và những giá trị giàu bản sắc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 - Để cạnh tranh trên thị trường VH - NT, các đơn vị tổ chức biểu diễn Cải lương, trong đó có Nhà hát CL THT cần không ngừng cải tiến, đổi mới làm hấp dẫn hơn các chương trình biểu diễn.
Nhóm công trình viết về khán giả sân khấu Cải lương Với lịch sử hơn 100 năm, sự thăng – trầm của sân khấu Cải lương đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm. Qua khảo cứu bước đầu, tính đến cuối năm 2020, NCS tiếp cận hơn 100 tài liệu viết về sân khấu Cải lương ở các dạng bài tạp chí, tham luận tại các hội thảo, luận văn, đề tài khoa học, sách chuyên khảo, hồi ký. Trong đó, rất nhiều công trình đề cập đến vấn đề khán giả của sân khấu Cải lương ở những khía cạnh khác nhau. Cụ thể: - Nhóm công trình khai thác khía cạnh nhu cầu của khán giả Cải lương Đầu tiên có thể kể đến cuốn Nghệ thuật sân khấu với đời sống văn hóa – sân khấu Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XXI, xuất bản năm 2004, của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn.
Công trình này đã dẫn lại ý kiến của nhiều nghệ sĩ, đạo diễn, diễn viên về thực trạng sân khấu Việt Nam nói chung, trong đó có Cải lương. Trong đó, nhận định về nhu cầu của khán giả Cải lương trong giai đoạn sau năm 1986, cố NSND Minh Phụng cho rằng tuy cải lương trên đà xuống dốc, nhưng khán giả nói chung đều vẫn rất mến thương nghệ thuật cải lương và bà con rất mong có được những sân khấu biểu diễn nghệ thuật Cải lương thật hay để thưởng thức [30, tr. Năm 2007, nhóm tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc và Đỗ Hương đã xuất bản công trình Sân khấu Cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách là sự tổng hợp những bài viết của chính nhóm tác giả và một số nhà báo, nghệ sĩ Cải lương.
Về nhu cầu của khán giả Cải lương, nhóm tác giả cho rằng: nội dung soạn phẩm phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của quảng đại quần chúng là yếu tố cơ bản, quyết định sự thu hút đông đảo của khán giả đối với sân khấu cải lương [72, tr. Đồng thời theo lời của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển, “Cải lương có cái sứ mạng cao cả, phô diễn lên sự thật của xã hội và gieo rắc tinh thần đấu tranh của dân tộc. Do đó cải lương đáp ứng được yêu cầu tình cảm và thẩm mỹ của quần chúng. Điều đó cũng có nghĩa cải lương ra đời là một cuộc cách mạng sân khấu, thật sai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 lầm nếu loại bỏ nó” [Dẫn theo 72, tr.
Cũng theo nhóm tác giả, đặc trưng tình cảm của người dân Việt Nam là phân minh, dứt khóat và thích những cái kết có hậu trong các vở Cải lương. Vì vậy, nếu một vở diễn có đoạn kết vô hậu, tình cảm giải quyết chưa được phân minh, hoặc kết thúc theo kiểu buông lửng, mặc khán giả hiểu sao cũng được thì soạn phẩm đó bảo đảm sẽ mất dần khán giả [72, tr. Trong công trình Sân khấu cải lương Bắc trong tiếp biến văn hóa được công bố năm 2012, tác giả Trần Thị Minh Thu cho biết “Do quá chú ý đến “thượng đế - khán giả”, nên sân khấu Cải lương Bắc đã bộc lộ sự thiếu hụt các tác phẩm có tầm vóc, mang hơi thở của thời đại” [127]. Năm 2017, tác giả Nguyễn Thị Trúc Bạch công bố kết quả nghiên cứu “Nghệ thuật Cải lương Nam Bộ: Nhìn từ sự vận động và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật trong bối cảnh đương đại”.
Qua khảo sát 440 phiếu bao gồm nhiều đối tượng khác nhau ở Tp.HCM, Trúc Bạch kết luận: tỷ lệ yêu thích sân khấu Cải lương không nhiều; khán giả muốn tìm lại hình ảnh những diễn viên mà họ yêu thích ở thập niên 60, 70 của thế kỷ trước bởi diễn viên trẻ hiện nay chưa thu hút được khán giả [3]. Từ kết quả khảo sát 1.000 sinh viên khu vực Tp.HCM, công trình Nghệ thuật Cải lương tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay của tác giả Hoàng Sơn Giang công bố năm 2018 cũng cho thấy chỉ có 9,3% sinh viên thường xuyên xem Cải lương [3]. Đồng quan điểm, trong công trình “Thực trạng về các vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị của nghệ thuật Cải lương trong bối cảnh xã hội hiện nay” được công bố năm 2018, tác giả Thanh Hiệp viết: nghệ thuật Cải lương đã không tìm được những điều công chúng trẻ cần và họ không đến rạp, không tìm hiểu để có được sự đồng cảm, bởi họ chẳng nhận được điều gì từ những trích đoạn Cải lương được xem [89, tr. - Nhóm công trình đánh giá thực trạng khán giả và nguyên nhân suy giảm khán giả của sân khấu Cải lương Trong cuốn 23 năm cuối của 300 năm Văn hóa nghệ thuật Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1998), tác giả Trần Trọng Đăng Đàn cho biết ở Tp.HCM, nếu năm 1984, tỷ lệ người dân đi xem Cải lương chiếm khoảng 70% - 85% trong tổng số 11.5 triệu lượt người xem sân khấu chuyên nghiệp, thì đến năm 1995, chỉ còn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 37,96% người thích Cải lương.
Tác giả cảnh báo tình trạng “già hóa” khán giả thích nghệ thuật Cải lương, và “Cải lương đang có xu hướng xa dần sự yêu thích của lớp trẻ” [29]. Kết quả nghiên cứu được công bố trong công trình Sân khấu Cải lương Nam Bộ: 1918 – 2000, năm 2003 của tác giả Đỗ Dũng cũng tương tự. Tác giả cho rằng thời điểm năm 1990, tại Tp.HCM, các suất diễn Cải lương bắt đầu vắng khán giả. Đoàn nào khá lắm cũng chỉ đạt khoảng 250 vé/suất, có đoàn chỉ hơn 100 vé/suất [28].
Cũng theo đạo diễn Trần Minh Ngọc, vào cuối thập niên 90, tại Tp.HCM, số lượng khán giả Cải lương đến xem tại sàn diễn hiện nay so với tổng dân số của Thành phố là ít. Trong khi đó, thị hiếu người xem còn thấp, thành phần tri thức thì không có nhiều tiền để xem [30, tr. Trong công trình Điều tra, phát huy nghệ thuật truyền thống Thành phố Hồ Chí Minh: Sân khấu Cải lương, do nhà nghiên cứu Huỳnh Quốc Thắng và cộng sự công bố năm 2010 cũng cho thấy mức độ đi xem, tỷ lệ người thích xem Cải lương dù hình thức nào cũng khá thấp so với các loại hình giải trí khác được nghiên cứu đồng thời [124]. Về nguyên nhân suy giảm khán giả Cải lương, trong cuốn Nghệ thuật sân khấu với đời sống văn hóa – sân khấu Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XXI (2004), nghệ sĩ Công Thành cho rằng nguyên nhân tuột dốc của Cải lương cuối thế kỷ XX là do trong bối cảnh kinh tế thị trường, những người quản lý sân khấu Cải lương chưa kịp thích nghi [30].