Chương 1 Quá Trình DU Nhập, Phát Triển Và ảnh Hưởng Của Phật Giáo Đối Với Đời Sống VĂN HóA TINH Thần NHÂN DÂN LÂM Đồng 1. Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Lâm Đồng Muốn tìm hiểu quá trình hình thành phát triển, cũng như ảnh hưởng của một tôn giáo đối với đời sống xã hội ở một quốc gia, dân tộc hay một địa phương cụ thể, không thể không nghiên cứu những đặc điểm của mảnh đất hiện thực đã nảy sinh ra nó. Đó là điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng tôn giáo của sự du nhập Phật giáo vào Lâm Đồng Điều kiện tự nhiên Lâm Đồng là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên.
Ngoài những đặc điểm chung của cao nguyên miền tây nam Trung Bộ, Lâm Đồng còn có những đặc điểm riêng do các điều kiện địa lý và quá trình lịch sử chi phối. Tỉnh Lâm Đồng có diện tích là 10.172 km², chiếm 3,12% diện tích cả nước, gần bằng 1/5 diện tích toàn vùng Tây Nguyên. Nhìn chung trong số các đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện nay từ đồng bằng Thanh - Nghệ trở vào đồng bằng Sông Cửu Long, Lâm Đồng là tỉnh duy nhất có lãnh thổ nằm trọn trong nội địa của đất nước, không có đường biên giới quốc gia, không có bờ biển [53, tr. Lâm Đồng gồm có 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện với 135 xã, phường.
Thành phố Đà Lạt là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, có thế mạnh phát triển du lịch, nghỉ dưỡng. Quá trình hình thành địa giới hành chính của tỉnh như hiện nay, Lâm Đồng đã trải qua một quá trình lịch sử đầy biến động, nhiều lần thay đổi, đã tách, nhập ở một số thời kỳ khác nhau (năm 1899 toàn quyền P. Doumer cho thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, năm 1950 ủy ban Kháng chiến liên khu ủy sát nhập 2 tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, năm 1958 Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Lâm Đồng gồm thị xã Đà Lạt và 3 quận Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh Thuận Lâm được thành lập trên cơ sở sát nhập 5 tỉnh cũ gồm: Lâm Đồng, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy, thành phố Đà Lạt trực thuộc Trung ương.
Đầu năm 1976 tỉnh Lâm Đồng (hiện nay) được thành lập trên cơ sở sát nhập Lâm Đồng cũ với Tuyên Đức và Đà Lạt) [53, tr. Phần lớn diện tích Lâm Đồng là rừng núi và cao nguyên, với địa hình mấp mô lượn sóng, thấp dần theo hướng đông bắc - tây nam, tạo nên những bậc thềm dài, rộng ở các độ cao khác nhau từ 2.000 xuống 300m so với mặt nước biển. Cao nguyên Lâm Đồng là nơi đầu nguồn của hệ thống sông, suối đổ về miền Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung. Với độ dốc cao, các dòng chảy trên sơn nguyên đã tạo nên nhiều thác nước, mang đến cho xứ sở này những cảnh đẹp kỳ thú như Pren, Cam Ly, Đatanla, Pongour v.
những dòng thác này mở ra điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện. Hai nhà máy thủy điện Đanhim (160.000 KW/năm) và Suối Vàng (3.000 KW/năm) đã phục vụ nguồn sáng đến cho thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt và nhiều vùng dân cư khác. ở đây cũng đã để lại nhiều đầm, hồ, có thể vừa nuôi thả, khai thác thủy sản nước ngọt, vừa kinh doanh du lịch nghỉ dưỡng như: Hồ Xuân Hương, Hồ Than Thở, Thung lũng Tình yêu [53, tr. ở Lâm Đồng có một kiểu khí hậu đặc biệt: khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao nguyên, một năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.
Nhìn chung khí hậu Đà Lạt ôn hòa, quanh năm mát mẻ, cùng với nhiều cảnh quan xinh đẹp, nên từ lâu nơi này đã thu hút nhiều du khách đến đây tham quan và nghỉ dưỡng. Đất đai của Lâm Đồng bao gồm nhiều loại: đất đỏ Bazan (200.000ha), đất phù sa màu mỡ để phát triển cây trồng (50.000ha), đất Feralit (710.000ha) để phát triển rừng và trồng cây công nghiệp. Nhờ có đất đai màu mỡ, khí hậu mát mẻ, Lâm Đồng thích hợp trồng cây công nghiệp (trà, cà phê, dâu tằm), rau quả ôn đới (bắp cải, súp lơ, cà rốt, khoai tây) và các loại cây trái nổi tiếng (hồng, bơ, đào, mận, actichaut) [53, tr, 20]. Ngoài ra, Lâm Đồng còn có những tiềm năng khá lớn về năng lượng và khoáng sản, đặc biệt là tiềm năng thủy điện và trữ lượng Bôxít, Cao lanh.
Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội Nếu thiên nhiên Lâm Đồng có một bề dày lịch sử phát triển đã lâu thì lịch sử kinh tế, văn hóa, xã hội nơi đây trái lại rất trẻ, nhưng không kém đặc sắc, có thể chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn từ năm 1975 trở về trước Năm 1899 người Pháp phát hiện ra vùng đất này, với ý đồ xây dựng một trạm nghỉ dưỡng. Từ đó Lâm Đồng chuyển sang một bộ mặt mới. Cơ sở hạ tầng thiết yếu được xây dựng như: đường bộ, đường sắt nối liền các tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận v.
cải tạo, nâng cấp quốc lộ 20; xây dựng nhà ga, sân bay Liên Khương, Cam Ly; xây dựng Thủy điện Đa Nhim, xây dựng một số trường học, trường dạy nghề, lập viện Đại học Đà Lạt, xây dựng lò phản ứng hạt nhân phục vụ nghiên cứu khoa học. Có thể coi đây là giai đoạn khai thác và phát triển các ưu thế khí hậu, đất đai, hình thành nền sản xuất hàng hóa đi đôi với phát triển xã hội. Tuy nhiên, trải qua thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ở địa bàn này nổi lên hai vùng kinh tế - xã hội rõ rệt, đó là vùng đang phát triển và vùng lạc hậu. Vùng đang phát triển: bao gồm thành phố Đà Lạt, Thị xã Bảo Lộc và các thị trấn huyện, lỵ như: Di Linh, Đức Trọng, Đơn Dương.
khu vực ngoại thị và ven các lộ giao thông chính. Đó là nơi quy tụ của đồng bào Kinh từ nhiều địa phương đến đây làm ăn sinh sống. Đây là vùng mà kinh tế hàng hóa đã có điều kiện để phát triển, giao lưu với các tỉnh lân cận và là đòn bẩy thúc đẩy trồng trọt nông phẩm, chăn nuôi, công nghiệp chế biến và phát triển một số ngành tiểu thủ công nghiệp. Vùng lạc hậu: bao gồm những khu vực miền núi cao hẻo lánh, vùng sâu, vùng xa, ở đó chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số.
Nơi đây vẫn tồn tại phương thức sinh hoạt kinh tế cổ truyền mang tính chất tự cung, tự cấp, dựa vào thiên nhiên là chủ yếu. Phương thức canh tác hầu như dựa vào nông cụ thô sơ, đa chức năng để đốt, phát rừng, chọc tỉa đất làm nương rẫy. Cuộc sống du canh, du cư, nay đây, mai đó, trình độ dân trí thấp, nạn đói xảy ra thường xuyên trong những tháng giáp hạt hàng năm, cộng với giao thông đi lại khó khăn, nên sự giao lưu với những vùng đang phát triển gặp nhiều trở ngại [53, tr, 40-45]. Từ năm 1975 đến nay Sau chiến tranh, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế Lâm Đồng gặp nhiều khó khăn, vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh và giải quyết vấn đề Fulro; vừa tiếp quản và cải tạo lại nền kinh tế; vừa từng bước xây dựng một nền kinh tế mới.
Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, với ý chí tự lực, tự cường, nhân dân Lâm Đồng đã từng bước vượt qua khó khăn, xây dựng quê hương giàu đẹp. Bước sang thời kỳ đổi mới, Lâm Đồng có nhiều bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế. Thời kỳ 1990 - 1995, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng gần 13%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, các tiềm năng thế mạnh được khai thác. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Lâm Đồng phát triển, xuất nhập khẩu được khuyến khích, hợp tác đầu tư với nước ngoài được mở rộng, đầu tư tăng nhanh, giải quyết việc làm được chú ý; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết [53, tr.
Nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện trên cơ sở phát huy thế mạnh cây công nghiệp dài ngày; rau, hoa, quả đặc sản phát triển theo hướng đầu tư thâm canh; đất đai được sử dụng có hiệu quả, hình thành nhiều vùng chuyên canh phát triển trên cơ sở bảo vệ tài nguyên và phát triển vốn rừng. Các ngành tiểu, thủ công nghiệp tăng với tốc độ cao, sản phẩm đa dạng, phong phú như hàng thêu lụa, đan len, đồ gỗ. Công nghiệp chế biến đang khẳng định được chỗ đứng của mình và tìm được thị trường tiêu thụ khá ổn định như trà, cà phê, dâu tằm, hạt điều. Dịch vụ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, số lượng du khách trong, ngoài nước đến Lâm Đồng ngày càng tăng, các khu du lịch được chỉnh trang, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được hoàn thiện đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Sau hơn 20 năm giải phóng, nhân dân các dân tộc trong tỉnh Lâm Đồng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy các tiềm năng, thế mạnh của địa phương, xây dựng nền kinh tế với cơ cấu công - nông - lâm - du lịch, kinh tế hàng hóa được được phát triển, bộ mặt Lâm Đồng ngày càng đổi mới, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, cơ sở hạ tầng ngày càng khang trang đẹp đẽ. Các thành phần dân cư và dân tộc hiện có ở Lâm Đồng Hiện nay ở Lâm Đồng song song tồn tại 2 thành phần dân cư. Bao gồm khối dân cư người Kinh, chủ yếu sinh sống tập trung ở địa bàn đang phát triển và khối dân cư dân tộc thiểu số, chủ yếu sinh sống trên địa bàn chậm phát triển. Theo số liệu điều tra dân số năm 1999, dân số tỉnh Lâm Đồng là 998.774 người, trong đó có trên 30 dân tộc thiểu số, chiếm 20% dân số toàn tỉnh, bao gồm các dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên như K’ho, Mạ, Chu ru,.
Ngoài ra còn có một số dân tộc thiểu số khác ở miền núi phía Bắc đến đây cùng chung sống như Hoa, Tày, Thái, Nùng. Nhìn chung, các dân tộc - cư dân Lâm Đồng có trình độ phát triển kinh tế,xã hội không đồng đều; ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và sắc thái văn hóa cũng khác nhau, từ đó tạo nên bức tranh tổng thể về đời sống văn hóa tinh thần hết sức phong phú, đa dạng.