mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bố cục 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về chính sách Văn hóa Việt Nam Trong chƣơng này, luận văn đi sâu vào những vấn đề nhƣ: khái niệm văn hóa, khái niệm chính sách và chính sách văn hóa, khái niệm đời sống văn hóa và đơn vị cơ sở, đặc điểm và vai trò của chính sách hóa. Bên cạnh đó, luận văn còn trình bày tổng quan về chính sách văn hóa Việt Nam từ sau đổi mới (1986) đến nay, tiếp cận trên hai phƣơng diện: Hệ thống chính sách văn hóa chung, hệ thống chính sách văn hoá trên từng lĩnh vực nhƣ và vai trò của nó trong phát triển đời sống xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng việc thực thi chính sách văn hóa trong đời sống ngƣời dân xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc, Nghê An Trong chƣơng này, chúng tôi phân tích các kết quả nghiên cứu cơ bản về việc triển khai, thực thi chính sách văn hóa và những tác động của nó đến đời sống ngƣời dân Nghi Mỹ đó là những tác động về đời sống gia đình, đời sống văn hóa cộng đồng, mức hƣởng thụ văn hóa của ngƣời dân.
Bên cạnh đó, chúng tôi đánh giá những ƣu điểm, hạn chế, cơ hội và thách thức trong 14 quá trình thực thi chính sách văn hóa trong đời sống ngƣời dân ở xã Nghi Mỹ hiện nay. Chƣơng 3: Tăng cƣờng hiệu lực của chính sách văn hóa để nâng cao chất lƣợng đời sống ngƣời dân xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghê An Trong chƣơng này, chúng tôi trình bày các quan điểm của Đảng, và nhà nƣớc Việt Nam về tăng cƣờng hiệu lực của chính sách văn hóa và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành các chính sách văn hoa trong đời sống xã hội. Bên cạnh đó, chúng tôi đƣa ra những giải pháp và những kiến nghị với các cơ quan chức năng của nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng hiệu quả của chính sách văn hóa, nâng cao chất lƣợng đời sống văn hóa cho ngƣời dân xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VĂN HÓA VIỆT NAM 1.
Văn hóa Văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên hiệp quốc UNESCO: Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngƣỡng, văn hoá đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý; chính nhờ văn hoá mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới, những công trình vƣợt trội bản thân2.
UNESCO cho rằng văn hóa là cái do con ngƣời sáng tạo ra, cái đặc hữu của con ngƣời. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con ngƣời, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trƣng căn bản, phân biệt con ngƣời với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Ở Việt Nam có rất nhiều khái niệm về văn hóa của nhiều học giả khác nhau.
Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa, theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn; trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm 16 tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngƣỡng, phong tục, lối sống. Khái niệm văn hóa theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣợc hiểu theo nghĩa rất rộng, Bác cho rằng: Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.431] Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài ngƣời sáng tạo ra nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn; đồng thời, đó cũng là mục đích của cuộc sống loài ngƣời.
Định nghĩa về văn hoá này của Ngƣời có rất nhiều điểm gần với quan niệm hiện đại về văn hoá. Trong Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, cho rằng: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử" [72; tr. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, đã đƣa ra một loạt quan niệm về văn hóa: Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội.
Nhìn chung, các khái niệm về văn hoá đều xem văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời và văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa 17 con ngƣời và xã hội; song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, đã đƣa ra khái niệm về văn hoá nhƣ sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình" [63; tr. Theo tác giả văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên, và văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội nhƣ ngôn ngữ, tƣ tƣởng, giá trị và các khía cạnh vật chất nhƣ nhà cửa, quần áo, các phƣơng tiện, cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Đây chính là khái niệm chính mà chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
Chính sách và chính sách văn hóa - Chính sách Trong một số từ điển tiếng việt hiện nay có những định nghĩa khác nhau về chính sách. Từ điển bách khoa Việt Nam đã đƣa ra khái niệm chính sách nhƣ sau: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ; chính sách đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định, trên lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phƣơng hƣớng xác định trong đƣờng lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện vụ thể [28; tr.
18 Trong Từ điển tiếng Việt, chính sách đƣợc xem là "sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra" [71; tr. Tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trong Đại từ điển tiếng Việt cho rằng chính sách là "chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội" [72; tr. Theo tác giả Lƣơng Hồng Quang: Chính sách là hệ thống các thể chế, các định hƣớng, các quy định tạo nên những thực hành của nhà nƣớc vào một đối tƣợng quản lý nào đó. Công cụ thực hành chính của các chính sách là luật pháp và các phƣơng pháp hành chính; ngân sách và hệ thống thuế.
Các dạng tồn tại của chính sách gồm các định hƣớng mang tính nguyên tắc, các văn bản thể chế, các chính sách đầu tƣ và thuế, các phƣơng pháp hành chính khác [50; tr. Nhƣ vậy, có thể hiểu chính sách là chƣơng trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Chính sách chính là tập hợp các chủ trƣơng và hành động về phƣơng diện nào đó của chủ thể, nó bao gồm các mục tiêu mà chủ thể muốn đạt đƣợc và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó, những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực khác nhau. - Chính sách văn hóa Khái niệm chính sách văn hoá là một thuật ngữ chỉ mới xuất hiện tại Châu Âu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhƣng nó nhanh chóng đƣợc sử dụng rộng rãi và trở nên thông dụng.
Tại hội nghị bàn tròn về các chuyên gia văn hoá họp tại Monaco năm 1967 đã đƣa ra quan niệm về chính sách văn hoá nhƣ sau: Chính sách văn hoá là một tổng thể những thực hành xã hội và có suy tính kỹ về những can thiệp hay không can thiệp của nhà nƣớc vào các hoạt 19 động văn hoá nhằm đáp ứng các nhu cầu văn hoá của nhân dân, bằng cách sử dụng tối ƣu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực, mà một xã hội nào đó có đƣợc vào một thời điểm thích hợp [30; tr. Ở một góc độ khác Giáo sƣ Peter Duelund3 cho rằng, định nghĩa hẹp nhất có thể nói,"Chính sách văn hoá là sự quản lý nghệ thuật về mặt hành chính, được coi là các công cụ để tài trợ cho nghệ thuật và văn hoá tại một xã hội cụ thể vào một thời gian cụ thể ".