Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Đời sống văn hóa Trong Nghị quyết Trung ương V, khóa VIII (1998), Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Chăm lo văn hóa là củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, thiếu nó hoặc không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với mục tiêu cuối cùng là văn hóa (công bằng, dân chủ, văn minh, con người phát triển toàn diện…) thì không thể có sự phát triển bền vững của xã hội. Như vậy có thể thấy, văn hoá có mặt trong các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, là kết quả tương tác, ứng xử đối với môi trường sống của con người.
Vì luôn xác lập vai trò vô cùng quan trọng của văn hóa trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước nên Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng “đời sống văn hóa” và xây dựng đời sống văn hóa, đặc biệt là đời sống văn hóa cấp cơ sở. Đời sống văn hoá là cụm từ mới được sử dụng rộng rãi ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Tiền thân của cụm từ này là cụm từ đời sống mới, tiêu đề của bài viết dưới dạng hỏi - đáp, công bố năm 1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh Tân Sinh. Cụm từ này ra đời trong bối cảnh đất nước ta giành được độc lập sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ "mới" thay cho từ "văn hoá" để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá. Người viết “Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ 16 hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới” [34, tr 953]. Quan điểm xây dựng đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức rõ ràng, cụ thể, thiết thực, có kế thừa, bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp mang tính truyền thống, loại trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp.
Tiếp đó, cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, đoạn viết: "Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hoá ở các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân tộc, ở miền núi và hải đảo". Hiện nay, thuật ngữ “đời sống văn hóa” khá phổ biến trong đời sống xã hội Việt Nam. Ở góc độ khoa học, thuật ngữ này cũng nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu. Trong tài liệu “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” của Viện Văn hóa được phát hành năm 2003 xác định nội hàm của thuật ngữ này như sau: Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội [61, tr.
Hay “Đời sống văn hóa là bộ phận cấu thành tích hợp trong đời sống chung của con người, xã hội… một tổng hợp những thành tố văn hóa tác động qua lại với đời sống của những cá nhân, cộng đồng” [16, tr. Đối với Nguyễn Hữu Thức, đời sống văn hóa được nhìn nhận hoàn chỉnh hơn khi tiếp cận vấn đề trong toàn bộ đời sống xã hội: Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động của các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và 17 chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới nâng cao chất lượng sống của chính con người [50, tr. Năm 2007, cuốn Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng cho rằng đời sống văn hóa bao gồm 4 yếu tố: văn hóa vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hóa; văn hóa cá nhân; văn hóa của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng. Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hóa vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người.
Có thể hiểu: Đời sống văn hóa chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiềm tàng thành những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi người trở thành một bộ phận hợp thành không thể tách rời, một thành tố thiết yếu của đời sống [30, tr. Đời sống văn hóa vừa mang những yếu tố văn hóa truyền thống vừa mang những yếu tố văn hóa mới, đó là những yếu tố văn hóa được hình thành từ những thay đổi trong phương thức sản xuất của xã hội. Đồng thời, các yếu tố văn hóa mới làm cho đời sống văn hóa chịu chi phối bởi những điều kiện của xã hội, đặc biệt là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
Thông thường, đời sống văn hóa bị quyết định bởi các điều kiện sau: quỹ thời gian rỗi ở các cấp thời gian khác nhau (ngày, tuần, năm) của mỗi đối tượng xã hội; quỹ tiền bạc của xã hội bằng nhiều nguồn thu nhập khác nhau dành cho chi tiêu vào đời sống văn hóa của đơn vị cơ sở; quỹ tiền bạc của gia đình dành cho chi tiêu vào đời sống văn hóa của các thành viên trong gia đình; tập quán hoạt động rỗi của 18 các đối tượng xã hội được hình thành trên cơ sở những điều kiện đặc thù của đời sống xã hội, tự nhiên của địa phương. Tóm lại, đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội bao gồm các yếu tố văn hóa. Nó gồm một tổng hợp những thành tố văn hóa tác động qua lại với đời sống của những cá nhân và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và thúc đẩy sự tiến triển của đời sống xã hội. Đời sống văn hóa có khi được hiểu như môi trường văn hóa, là cầu nối giữa văn hóa của xã hội và văn hóa của cá nhân.
Khi đời sống văn hóa phát triển phong phú, con người được tham gia vào các hoạt động tích cực sẽ giúp hình thành những nhân cách đẹp theo hướng “chân – thiện – mỹ”. Đời sống văn hóa cơ sở Từ cách hiểu về văn hóa, đời sống văn hóa, có thể hiểu đời sống văn hóa cơ sở là tổng thể các thành tố đời sống vật chất, đời sống tinh thần và các hoạt động xã hội của người dân. Đó cũng là những nội dung nghiên cứu chính trong luận văn này. Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phải được duy trì thường xuyên để vừa tạo nên một bộ mặt mới của đời sống người dân vừa hỗ trợ tiến trình xây dựng nông thôn, đô thị mới.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là nhằm đưa những giá trị văn hóa cao đẹp tới nhân dân lao động, nhằm tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, khoa học, phát triển trí tuệ, tâm hồn, tức là giáo dục cho con người phát triển toàn diện, hài hòa cả về tinh thần và thể chất. Xây dựng đời sống văn hóa theo nghĩa rộng là một công việc lâu dài, công việc mà toàn xã hội, toàn cộng đồng phải chăm lo thực hiện chứ không phải chỉ riêng ngành văn hóa phụ trách. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, là công tác xây dựng, tổ chức và hoạt động văn hóa ở cơ sở phù hợp với yêu cầu của địa phương, trong đó biểu hiện quan trọng nhất, rõ rệt nhất là những hoạt động văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng đời sống văn 19 hóa ngay trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân.
Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng ta đã định hướng phát triển văn hóa như sau: Đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa. làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người,. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân. đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành mạnh [21, tr.
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống. Tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế ở các cấp. Xã hội hóa các hoạt động văn hóa [22,tr. Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của xã hội mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra các nội dung mới cho phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (PTTDĐKXDĐSVH) gồm sau: - Đoàn kết giúp nhau “xoá đói, giảm nghèo”; - Thực hiện nếp sống văn hóa, kỷ cương pháp luật; - Xây dựng môi trường văn hóa; - Xây dựng các thiết chế và hoạt động văn hóa - thể thao; - Xây dựng chính trị, tư tưởng lành mạnh.